MY' HISTORY ...

Sống - khát vọng để thấy đời mênh mông hơn!

MY'S HISTORY ...

Sống - khát vọng để thấy đời mênh mông hơn!

MY'S HISTORY ...

Sống - khát vọng để thấy đời mênh mông hơn!

MY'S HISTORY

Sống - khát vọng để thấy đời mênh mông hơn!

MY'S HISTORY

Sống - khát vọng để thấy đời mênh mông hơn!

Hiển thị các bài đăng có nhãn Giới thiệu tác phẩm văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giới thiệu tác phẩm văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

1 thg 2, 2010

Con còng gió mồ côi - truyện ngắn của NGUYÊN TÙNG

Tôi nói với Hạnh:
- Nếu không gặp lại Hạnh, cậu sẽ ân hận suốt đời vì vết thẹo ấy. Vết thẹo do chính mình đã gây ra.
Chị Hai tôi cố nở nụ cười trên gương mặt méo mó hằn rõ sự đau đớn thể xác cố kìm nén pha lẫn với niềm xúc động:

- Em chỉ vô tình thôi mà. Lúc ấy em hãy còn là trẻ con. Ai nỡ trách lỗi lầm của một người chưa có đủ ý thức.

Hạnh không nói gì, chỉ mỉm cười vô tư. Chị Hai tôi buông bàn tay đang mân mê vết thẹo chỉ còn là một vệt mờ nhạt chạy dài từ ót xuống bả vai của cô con gái, bước chậm chạp đến chiếc võng được thắt bằng dây chuối giăng ở hai cây cột của căn nhà cất theo kiểu trính. Dù chị cố tình quay nhanh tôi cũng kịp thấy hai giọt nước long lanh nơi khóe mắt. Tôi hiểu những điều chị vừa nói là xuất phát tận đáy lòng và giọt nước mắt kia chính là biểu hiện của niềm vui quá lớn. Nhìn cái dáng đi chậm chạp nặng nề của người bị xơ gan cổ trướng ở giai đoạn cuối của chị tôi thấy thật ái ngại. Tôi nói với chị điều mà từ lâu tôi cảm nhận khi nhớ về cảnh hiu quạnh của chị và đứa cháu lúc ấy chưa biết sống chết ra sao:

- Có những lỗi lầm dù do sự vô ý nhưng nó đã gây đau khổ cho kẻ khác suốt đời. Em sẽ không tha thứ cho hành động ấy của mình cho dù lúc ấy em còn là đứa con nít, chưa lường hết được hậu quả cái điều mình đã gây ra.

Nãy giờ Hạnh như người ngoài cuộc dù câu chuyện mà chị em tôi đề cập tới liên quan trực tiếp đến Hạnh.Có lẽ vì muốn phá tan bầu không khí bỗng nhiên chùng xuống ấy, Hạnh cất tiếng, giọng thật vui:

- Sao cậu cứ tự làm khổ mình điều mà không ai còn nhớ. Nhưng cũng chính nhờ vết thẹo ấy cậu mới nhận ra Hạnh kia mà.

Hạnh nói đúng. Nếu trên người Hạnh không có vết thẹo ấy thì chắc gì tôi đã nhận ra đứa cháu gái của mình mà từ lâu tôi cố công tìm kiếm.

Cuộc đời nhiều lúc xảy đến những việc lạ thường không sao giải thích được. Không là tín đồ của một tôn giáo nào nhưng đôi lúc tôi cũng dựa vào những triết thuyết với niềm tin của họ và cảm thấy lòng thanh thản hơn. Đó là lúc tôi là kẻ đón nhận hay chứng kiến những sự ngẫu nhiên mà dù mình có thông minh cũng không hề lường trước được.

Tôi đã gặp Hạnh lần đầu ở quán Phong Lan. Ở cái thị xã nhỏ bé của một tỉnh đồng bằng này Phong Lan là quán nhậu sang nhất chỉ dành riêng cho giới thượng lưu. Nhưng sang là một chuyện còn chuyện khác mới quyết định cho việc thu hút thực khách. Quán có dàn tiếp viên lịch sự, xinh đẹp sẵn sàng phục vụ từ A đến Z nếu khách có yêu cầu, lại rất kín đáo. Vào đây khách sẽ yên tâm vì danh tánh được hoàn toàn bảo mật, uy tín không hề bị mất mát nếu một trong những vị cùng đi chẳng nói ra. Nghĩ cho cùng thì không ai dại dột làm chuyện ấy vì như thế cũng chính anh ta đã tự tố cáo mình. Nghe đâu quán được bảo kê chắc chắn.

Tôi không là khách ruột của quán Phong Lan hay đúng hơn là vị khách bất đắc dĩ. Nói cho rạch ròi, vì bản tánh tôi vốn nhút nhát, sống có phần khắc kỷ ngay với bản thân mình. Anh bạn thân, cũng trong giới họa sĩ trong một lần vui miệng nói chân tình: “Mày sống như một thầy tu, chẳng có chút nghệ sĩ tính nào. Tranh của mày dù có toát lên đôi chút lãng mạn, đường nét tuy có tài hoa nhưng hãy coi chừng, ý tưởng sẽ bị xơ cứng vì nó đóng khung trong phạm trù đạo đức. Thời buổi này không ai bỏ tiền mua những thứ ấy nữa”. Anh có quyền lên lớp tôi như vậy vì ở lãnh vực chiều theo thị hiếu khách hàng thì anh nhạy bén hơn tôi nhiều, và rất thành công. Điều đáng nói sự thành công ở “nghệ thuật mang giá trị kinh tế” ấy có phần không nhỏ do cá tính của anh. Anh không thuộc dạng “quậy” tưng bừng nhưng hơi “bốc” một chút, buông thả một chút, không hẳn tin một điều gì và cũng không bất mãn một điều gì. Anh giao du đủ mọi giới, đủ mọi hạng người mà hầu như ai cũng thích. Tác phẩm của anh, nó đem lại tiếng tăm và cuộc sống sung túc cho anh thì hầu hết không đến mức khó hiểu buộc người xem phải động não nhiều, cũng không rơi vào tầm thường đến mức dung tục. Điều này thì chính anh thú nhận. Anh tự xếp loại mình vào “trường phái tưng tửng” và theo anh “trường phái tưng tửng” này sẽ trụ vững ít ra là tới những năm đầu của thế kỷ XXI.

Sự giao du rộng rãi cộng với cá tính ấy chính là nghệ thuật quảng cáo tuyệt vời cho tác phẩm của anh. Nó vừa là nhịp cầu vừa là động cơ của hàng loạt bài báo về anh. Các vị chức sắc, những vị đại gia hào phóng mua tranh với niềm hãnh diện, chứng tỏ rằng mình cũng thuộc hạng người biết yêu nghệ thuật.

Tôi rất nể anh và thầm cám ơn những lời khuyên chí tình ấy nhưng tự biết rằng mình sẽ không làm được như anh. Biết sao được, khi cá tính của tôi vốn vậy.

Lẽ thứ hai, là họa sĩ như tôi làm gì đủ tiền để bước chân vào chốn sang trọng ấy: Tìm thú vui chỉ một nhưng hoang phí đến mười. Nếu cần vui thú với bạn bè, chúng tôi thường kéo nhau đến quán Cây Táo - quán nhậu bình dân của thiếm Ba Lìn, người gốc Triều Châu. Vậy là có dịp nói với nhau đủ chuyện trên trời dưới đất, có khi chỉ là để lắng nghe, sẻ chia nỗi phiền muộn mà người bạn thân đang gặp phải.

Hôm ấy, lần đầu tiên tôi đến quán Phong Lan vì không tiện từ chối lời mời nhiệt thành của Tuấn, người bạn học thời phổ thông, cũng là dịp để biết thêm cái thú ăn chơi của các bậc thượng lưu. Tuấn là giám đốc một công ty thường xuyên quan hệ với khách nước ngoài. Không thể ngờ rằng cái anh chàng Tuấn “Gà Cồ” hồi nào giờ lại nổi danh ở lĩnh vực kinh tế. Nghe đâu anh chàng về nhận chiếc ghế giám đốc cũng là nhận luôn một khoản nợ khổng lồ do vị tiền nhiệm để lại. Vậy mà chỉ trong vòng chưa đầy hai năm tiếng tăm công ty cùng tên tuổi vị giám đốc nổi như cồn. Báo chí hết lời ca ngợi như một điển hình cung cách quản lý trong cơ chế thị trường.

Tôi nhớ khoảng một tháng sau ngày Tuấn nhận chân giám đốc, anh đến thăm tôi. Trong câu chuyện tôi có tỏ ý lo ngại cho anh về khoản nợ ấy nhưng anh chỉ mỉm cười, vẻ tự tin. Tuấn không hé lộ cho tôi biết chút gì về kế hoạch điều hành cái công ty đang rệu rã ấy, chỉ tấm tắc khen bức tranh tôi đang vẽ dở. Thú thật trong tôi hoàn toàn chưa có ý định nào về mục đích sử dụng bức tranh. Nó được hình thành là do cơn đột hứng, khi mà tâm hồn tôi bỗng quay về kỷ niệm tuổi ấu thơ. Một cô bé lên ba ngồi trong khung cửa hẹp của ngôi nhà lá nghèo nàn, tay nắm sợi nhợ mà đầu kia được cột vào chiếc càng lớn màu hồng của con còng nhịp. Một tay cô bé trong tư thế đang vỗ xuống đất để kích động, chú còng theo bản năng vừa cố sức chạy vừa giương chiếc càng khổng lồ lên tự vệ. Gương mặt cô bé rạng rỡ, say mê, không hề hay biết phía sau lưng mình có chú bé khoảng mười ba tuổi đang bưng trên tay tô mật còn bốc khói. Bức tranh mới ở dạng phác thảo, không hiểu nó khơi gợi điều gì ở Tuấn mà anh tỏ ra rất thích thú. Một tuần sau, bức tranh được hoàn chỉnh theo phong cách dân gian tôi đem tặng Tuấn. Chỗ bạn bè chơi thân chúng tôi tránh nói với nhau những điều khách sáo hoặc tâng bốc, có khi ở ánh mắt hay chỉ là sự im lặng mà cũng hiểu được, cũng cảm thông được tâm trạng của nhau. Vì thế qua cách đón nhận bức tranh tôi hiểu Tuấn xúc động đến mức nào.

Không ngờ bức tranh có duyên số lạ lùng. Vừa qua công ty của Tuấn đã ký kết hợp đồng với một tập đoàn kinh tế Nhật Bản mà qua báo chí nó sẽ thu về cho tỉnh số ngoại tệ không nhỏ. Để kỷ niệm cho mối quan hệ hợp tác ấy Tuấn đã trao tặng bức tranh cho vị đại diện tập đoàn.

- Sao Tuấn lại tặng tranh. Ông ta là nhà doanh nghiệp kia mà, biết ông ấy có thích? - Tôi băn khoăn hỏi Tuấn.

- Ô, ông ấy thích lắm. Là thương gia nhưng ông ta rất mê tranh. Trong bộ sưu tập của ông có nhiều tranh của họa sĩ Việt Nam. Ông thích bức đó lắm.

Tôi cảm thấy buồn. Không hẳn là buồn Tuấn, cũng không hẳn là vì tiếc bức tranh. Công bằng mà nói thì bức tranh chẳng có gì đặc biệt nhưng giá như nếu phải thay nó bằng bất cứ bức nào trong số tranh còn lại của tôi thì tôi cũng sẵn sàng không phải băn khoăn. Còn bức ấy, tôi không muốn chút nào. Nếu không phải là Tuấn thì chắc chắn tôi sẽ không bao giờ tặng hay bán nó cho ai cả. Bởi nó là nỗi ám ảnh thường xuyên của một kỷ niệm buồn thời niên thiếu mà với Tuấn tôi cũng chưa một lần thổ lộ.

- Bình cho mình xin lỗi. - Như đọc được suy nghĩ của tôi Tuấn nói giọng chân thành - Tặng nó, mình tiếc lắm. Nhưng nghĩ đến lợi ích chung mình phải bấm bụng mà hy sinh chút riêng tư vậy.

Tôi cũng không biết trả lời Tuấn thế nào. Thôi thì dù sao chuyện cũng đã rồi.

*

* *

- A, vậy ra anh là họa sĩ à?

Tiếng reo của cô gái đột ngột làm tôi giật mình. Tôi lúng túng thật sự khi nhận ra đó là cô tiếp viên của quán Phong Lan. Tôi còn nhớ tên cô ta là Mai - ấy là do cô ta tự giới thiệu vậy thôi chứ trời biết có phải đó là tên thật. Với mấy cô gái này thì Hồng, Mai, Lệ, Thúy, Hạnh, Hiền... đều có thể trở thành tên cả, biết đâu đó chỉ là một trong năm bảy cái tên mà cô từng giới thiệu với khách.

- Chắc Mai đi làm về?

Tôi hỏi thế vì lúc ấy đã hơn mười một giờ đêm. Cô không trả lời mà chỉ khẽ gật đầu trong lúc nhìn những bức minh họa tôi vừa vẽ xong để kịp giao cho báo ngày mai. Cũng lạ, chỗ tôi ở với quán Phong Lan không nằm trên một tuyến đường, vậy chẳng lẽ nhà cô ta cũng cùng dãy phố với mình mà từ lâu tôi không biết. Tôi nhớ mình chưa hề gặp cô ta trừ lần duy nhất ở quán. Nhắc đến chuyện ấy tôi vẫn còn thấy ngượng. Trong lúc Tuấn rất hoạt, anh đã sử dụng cả mũi, cả miệng, cả tay một cách sành sõi, “điệu nghệ” trên thân thể cô gái (mà tôi biết anh cố nhận về mình cô không được bắt mắt cho lắm, còn nhường cô vừa trẻ vừa đẹp cho tôi) thì tôi lại ngồi trơ như tượng gỗ. Chất men của những lon bia không đủ kích thích (hay là vô hiệu?) đối với hệ thần kinh quá yếu đuối của tôi. Cảm thấy mình lạc lõng giữa mọi người ở đây và thú thật trong tôi dần len đến nỗi xấu hổ, vì tự thấy mình chẳng giống ai. Tôi hối hận việc mình bước chân vào đây vì không muốn để Tuấn hiểu lầm từ chối chính là biểu lộ sự quý trọng bức tranh hơn tình bạn. May mà cô gái ngồi bên tôi có vẻ thùy mị, đoan trang chứ không mơn trớn đến mức lố lăng như cô ngồi cùng Tuấn.

- Kìa Mai, chăm sóc bạn anh đi chứ! - Dù say sưa đùa nghịch đủ mọi trò Tuấn vẫn không quên để ý đến tôi. Có lẽ anh cho rằng tại tôi mới đi lần đầu nên chưa quen, cần có sự hướng dẫn, săn sóc đặc biệt của cô gái thì tôi sẽ hòa nhập được.

Nhưng Mai là cô gái tinh tế. Sau mấy lần tôi lịch sự từ chối việc cô đút thức ăn hay lau mặt cho tôi thì cô không làm nữa. Trong tôi chợt bật lên ý nghĩ là hãy sẵn sàng đón nhận nụ cười thậm chí những lời lẽ chế diễu của cô gái. Không biết lúc ấy mình còn đủ sức chịu đựng không hay buộc phải đứng dậy ra về với bộ mặt ngây thộn. Nhưng chuyện ấy đã không xảy ra.

- Mai hát anh nghe nghen.

Cách gỡ bí cho tôi của Mai quả là thông minh. Nàng đem đến cây đàn ghi-ta thùng. Vậy là đôi tay của tôi không trở nên thừa thãi nữa rồi. Tôi đệm bài “Đêm đông”, Mai lắc đầu bảo không hát được bài ấy. Tôi khe khẽ hát “Buồn tàn thu” Mai cũng nói không thuộc. Thôi thì em cứ hát bản nào em thích miễn là nó lấp kín khoảng thời gian đối với tôi quá nặng nề này. Những bài hát ruột của nàng lại rơi nhằm những bản mà ngày này sang ngày khác chiếc cassette nhà bên cạnh cứ tra tấn tôi. Có nhiều bữa không chịu nổi tôi phải lấy bông gòn nhét đầy hai lỗ tai, rồi đóng kín tất cả các cửa lại. Vậy mà lúc này chính nó là vị cứu tinh của tôi.

Để phá tan sự im lặng có lẽ Mai cũng như tôi đang hồi nhớ lần gặp gỡ bất đắc dĩ ấy, tôi nói:

- Chắc là Mai rất khó chịu khi gặp phải những vị khách như tôi?

Cô ta không trả lời thẳng câu hỏi, nhìn tôi cười lém lỉnh:

- Con bạn em nó gọi anh là “gã khờ cuối thế kỷ”, nhưng chính vì vậy mà em tin.

- Tin gì?

- Thú thật là em đang bị theo dõi. Quán bị bắt quả tang, đóng cửa rồi. May bữa đó em bịnh nghỉ ở nhà nên không bị bắt. Hổm rày thất nghiệp, mỗi tối em phải đi rảo những con đường tìm khách. Tình cờ qua ngang đây thấy anh em nhớ ra ngay. Anh vẽ đẹp quá. Em nghe người ta nói mấy ông văn nghệ sĩ là chúa”quậy”, mà sao anh hiền khô, “lụ khằm” vậy?

- Tại anh là “gã khờ cuối thế kỷ” mà!

Nàng cười liếng láu. Tiếng cười thật hồn nhiên, thoải mái như cười với người thân. Dù bây giờ phần nào tôi yên tâm sự xuất hiện đột ngột của nàng nhưng tôi vẫn không tin những điều nàng vừa kể. Có bao nhiêu điều tôi cần biết nhưng hỏi chắc gì nàng nói thật, huống hồ lúc này mà đem những lời giáo huấn lên lớp thì lập tức tôi sẽ trở nên thằng lố bịch. Nghĩ vậy nên tôi chỉ đẩy đưa cho có chuyện và chú ý từng cử chỉ của nàng. Bất chợt tôi như không tin ở mắt mình khi nhận thấy vết thẹo từ ót xuống bả vai rồi khuất trong viền cổ áo thun lúc Mai cúi xuống xem bức tranh. Tôi bước lại gần, và dù cố ghìm cơn xúc động vẫn cảm thấy đôi chân mình khẽ run:

- Xin lỗi, cho tôi tò mò một chút, vết thẹo...

Mai nhìn tôi cười thẹn:

- Ối, em bị phỏng hồi nhỏ ấy mà.

- Hiện nay Mai sống với ai?

- Em ở một mình. Thật ra cũng không biết cha mẹ là ai nữa. Em bị lạc hồi còn nhỏ.

- Ngoài tên Mai, Mai còn có tên nào khác?

- Mai chỉ là tên gọi ở quán thôi chứ em tên là Hạnh.

Trời ơi, Hạnh - “Con bé Gió Bấc” đây sao?

*

* *

Chuyện chị Hai tôi chửa hoang ngày càng lan rộng. Từ cán bộ tới dân thường, từ làng trên đến xóm dưới đâu đâu cũng nghe người ta bàn tán xôn xao. Người nhân hậu thì nói nhẹ nhàng: Vượt trăm sông nghìn suối để rồi chết đuối tại lỗ chân trâu. Gay gắt hơn họ mỉa mai, xỉa xói: Cán bộ nói một đường làm một nẻo. Mới ngày nào còn đứng trước đám đông rao giảng đạo đức, mà nay chính mình lại sa sẩy đầu tiên. Lúc đó tôi còn nhỏ tuổi nhưng thấy thái độ mọi người xung quanh và sự cam chịu của chị Hai cũng hiểu được mức độ nghiêm trọng của nó.

Trong những năm chiến tranh chống Mỹ, chị Hai tôi là chính trị viên của trung đội nữ mang biệt danh “Bộ đội Thu Hà”. Ở Bến Tre, vùng đất được hợp thành bởi ba dãy cù lao này cái biệt danh ấy luôn gây sự bất an cho giặc. Sau giải phóng, chị chuyển ngành về làm Phó bí thư Đảng ủy xã. Suốt cuộc chiến tranh không hề tai tiếng gì về phẩm hạnh vậy mà đùng một cái... Người ta đồn rằng trong đêm gió bấc tràn về chị đã sa vào vòng tay của gã đi soi. Những trận phê bình, những lời xỉa xói chị vẫn không nêu tên anh ta. Chị chấp nhận mất tất cả. Đứa bé ra đời trong sự ghẻ lạnh, dè bĩu của mọi người. Chị đặt tên cho nó là Hạnh nhưng họ cứ gọi (dĩ nhiên là sau lưng chị) là “Con bé Gió Bấc”. Người ta nhìn nó xầm xì to nhỏ cố nhận ra những nét đặc biệt trên gương mặt non nớt hồn nhiên kia để liên hệ với một ai đó trong làng - cái anh chàng đi soi đêm ấy. Cũng có người không nhịn được đã hỏi thẳng chị: “Cha đứa bé là ai?”. Chị chỉ mỉm cười. Sau này thấy chị khổ cực, vất vả quá tôi hỏi vì tức cái anh chàng vô trách nhiệm kia thì chị xoa đầu tôi: “Tại chị muốn như vậy mà, anh ấy không có lỗi. Chị không nói vì không muốn phá vỡ hạnh phúc của kẻ khác. Em chỉ cần biết bé Hạnh chính là niềm hạnh phúc của chị. Chị đã lỡ thời, xấu xí...”. Nhiều năm sau này câu nói giữa chừng uất nghẹn của chị cứ ám ảnh tôi.

Một ngày vào khoảng tháng ba âm lịch, tôi còn nhớ hôm ấy chúa nhật nên tôi nghỉ học. Sáng sớm nấu cơm ăn xong chị Hai tôi dặn:

- Bình ở nhà chơi với bé Hạnh, chị đi “trạc” khuôn muối, rồi quạt nước vô ruộng luôn xế chiều mới về. Có ba ổ mật ong chiều qua đi rừng đốn củi chị hốt được em ở nhà vắt ra đem thắn kẹo, để dành cho ngoại làm thuốc.

Tôi khoái chí. Vậy là tôi với “Gió Bấc” tha hồ nhấm nháp cái chất deo dẻo mà ngọt lịm của sáp ong. Khoái nhất vẫn là cầm nguyên ổ mật cắn ăn nhưng chị Hai nói để dành phần ngoại nên tôi không dám ăn hỗn. Rừng nước mặn ở quê tôi hiếm mật lắm nhất là từ khi người ta phá dần để làm ruộng muối, nên mỗi khi hốt được một vài ổ ong bọn trẻ con chúng tôi được ưu tiên nhất vẫn chỉ là phần tàn ong sữa, còn mật thì để dành những khi thật cần thiết. Ngoại tôi nói: “Mật ong thắn kẹo để lâu năm làm thuốc tốt lắm”. Tôi cũng không biết ngoại làm thuốc trị bệnh gì ngoài lần tôi bị đau bụng đi chảy ngoại cho uống và lần cậu Út đi rừng bị đạp miểng bom máu chảy lênh láng, ngoại cầm chai mật rót xối xả vào vết thương rồi mới cho người cõng đi trạm y tế. Còn tại sao phải thắn mật trên lửa thì tôi không hiểu. Ngoại nói vậy thì nghe vậy.

“Gió Bấc” đã được ba tuổi và phá như “quỷ sứ”. Nó cứ lẽo đẽo theo tôi, lục lạo, phá phách hết buông vật này lại bắt cái khác khiến tôi không làm gì được. Tôi dỗ nó:

- Cậu làm cho “Gió Bấc” con ngựa kéo chơi, “Gió Bấc” chịu hôn? - Biệt danh này chỉ khi nào không có chị Hai tôi mới gọi, xem ra con bé cũng khoái.

- Dạ chịu.

Tôi ra sau nhà đuổi bắt được một chú còng nhịp lạc hang. Con còng đẹp lắm, mình nó màu xanh có điểm những chấm đen trắng, đặc biệt chiếc càng to hơn ngón tay cái màu hồng. Tôi lấy sợi nhợ cột nơi khuỷu càng rồi thả nó xuống đất. “Gió Bấc” vỗ tay reo vang:

- Á ngộ, á ngộ. Cho con, cho con.

Tôi đưa sợi nhợ cho nó nắm rồi dặn:

- “Gió Bấc” ngồi chơi với “ngựa” để cậu thắn mật cho bà cố. Nhớ không được thọc tay vô càng, còng kẹp sứt tay nghen.

- Dạ.

Mật thắn xong, tôi trút ra tô định bưng lên để ở bàn nhà trên. “Gió Bấc” ngồi choán chỗ đường đi, đang say sưa la hét, tay đập đập xuống đất. Con còng bò nhanh, miệng nó sủi bọt, giương càng lên như chiếc gọng kìm.

- Tránh ra, tránh ra.

Con bé mê chơi không đếm xỉa tới lời tôi. Tôi đứng lừng khừng không dám bước ngang sợ vấp phải sẽ đổ nhào tô mật trên người nó. Lúc này mật đã nóng ra tới khu tô, tôi nổi cáu:

- Tránh ra không thôi tao đổ lên đầu bây giờ.

“Gió Bấc” bỗng hét lên thất thanh rồi ngã nhào lăn lộn dưới đất. Không ngờ tôi chỉ dứ dứ định dọa nó thôi nhưng sơ ý tô mật bị nghiêng, nhễu xuống ngay ót con bé.

Vết phỏng sau đó lành lặn nhưng do da bé còn non, nên đã để lại một vết thẹo dài. Và câu chuyện lầm lỗi thời thơ dại cũng không đến mức dằn vặt tôi mãi đến bây giờ nếu như “Gió Bấc” không bị thất lạc. Tuy việc sau này tôi không có lỗi nhưng mỗi khi nhớ đến nỗi đau quá lớn ấy cứ ngày càng rút kiệt sức lực chị Hai thì nó thường trực hiện đến ám ảnh tôi.

Năm sau quê tôi lâm vào nạn đói khủng khiếp. Dĩ nhiên đó là hậu quả tất yếu của đất nước vừa trải qua cuộc chiến tranh dai dẳng, nhưng tỉnh tôi ở mức nghiêm trọng vì thêm nạn sâu rầy. Người dân dắt díu, đổ xô nhau vô Đồng Tháp, Cà Mau làm thuê, làm mướn để có cái ăn, dành dụm chút tiền mua lúa chở về. Sông rạch dập dìu ghe xuồng, người lớn, trẻ con nheo nhóc còn bị mang tiếng là lũ “rầy nâu”. Chị Hai tôi và bé Hạnh cũng nằm trong số đó. Trong một chuyến đi lúc chở lúa về vượt trạm không thoát, ghe lúa của chị bị giữ lại. Dọc dài dưới bến sông trước trạm hàng trăm ghe xuồng cùng chung cảnh ngộ. Chị dẫn bé Hạnh theo những người đi cùng lên bến để chờ “giải quyết”. Biết là sẽ chờ lâu mà “Gió Bấc” cứ khóc lóc vòi quấy chị đồng ý để mấy đứa nhỏ cùng đi chung đoàn dẫn nó vô chợ. Không biết lơ đễnh thế nào mà chúng để lạc mất con bé.

*

* *

Ngắm lại bức tranh lần cuối tự thấy hài lòng tôi loay hoay xếp dụng cụ vào chiếc túi du lịch. Gió mạnh hơn lúc nãy đôi chút nhưng vẫn chưa xua tan được mùi khăn khẳn tanh nồng của những con tàu đầy ắp cá vừa từ biển trở về trộn lẫn mùi của những giàn khô chưa đủ nắng trên xóm bãi. Sóng đã chồm lên gần tới dãy bần con lưa thưa nơi bãi cát chạy dài bỗng dưng ngoặt thành hình cánh chỏ. Dù đã quen thuộc với biển từ thuở ấu thơ tôi vẫn luôn có cảm giác nôn nao mỗi khi triều lớn. Mới lúc nãy mặt biển còn lùi xa cách dãy bần hàng trăm mét vậy mà chỉ thoáng chốc mặt cát chi chít những đụn cát tí hon - thành quả lao động miệt mài của những chú dã tràng - bị những lượn sóng ập đến xóa tan, bãi cát chìm trong làn nước.

- Ô, đẹp quá!

Hạnh đã rời bỏ những lượn sóng đùa nghịch dưới chân, đến phía sau tôi từ lúc nào.

Tôi kẹp bức tranh vào tấm bìa cứng trao Hạnh cầm và định nói: “Nó đẹp là nhờ Hạnh” nhưng kịp ghìm lại vì bỗng nhiên Hạnh cất tiếng cười giòn giã. Tiếng cười và ánh mắt Hạnh báo cho tôi biết Hạnh đã có những ý nghĩ khác ẩn sau tiếng reo chúc tụng có vẻ hồn nhiên. Từ ngày chị Hai tôi mất, đây là lần đầu tiên Hạnh có giọng cười ấy. Nỗi buồn nào rồi cũng vợi đi nhường chỗ cho cái tươi tắn, liếng láu vốn dĩ đã có từ một cô gái trẻ. Có lẽ vậy.

Ngồi xuống chiếc ghế mây ở hàng ba của quán hướng về phía biển, tôi gọi cho tôi ly cà phê đen, còn Hạnh chai Coca cola:

- Hạnh không thích bức này à? Vậy mà lúc vẽ cậu đã hứng khởi thật sự. Hạnh không nhận ra cô bé một mình nghịch sóng là chính Hạnh sao?

- Hạnh biết cậu vẽ Hạnh nhưng dù sao đó cũng chỉ là cái cớ gợi niềm cảm xúc nơi người nghệ sĩ. Còn khi nó đã thành đường nét trên bức tranh thì cô gái ấy không còn là Hạnh nữa.

- Vì cậu vẽ Hạnh từ phía lưng, không phải vẽ gương mặt Hạnh như bức chân dung nên nhìn không giống?

Cô gái mỉm cười. Phin cà phê đã ngưng nhỏ giọt. Hạnh đặt phin xuống bàn, dùng muỗng xúc đường để vào ly cà phê và khuấy nhẹ. Đó là cử chỉ tỏ vẻ chăm sóc của đứa cháu gái đối với người em trai của mẹ mình. Tôi cảm nhận nó với niềm hạnh phúc khi nhớ đến nụ cười và những giọt nước mắt cố giấu che của chị Hai ngày tôi đưa Hạnh trở về. Chị không qua khỏi căn bệnh quái ác mà đến nay y học còn chịu bó tay nhưng tôi nghĩ chị đã ra đi trong thanh thản. Về phần tôi dù có đau buồn nhưng không ân hận và nỗi ám ảnh về vết thẹo trên người đứa cháu do lỗi lầm xưa đã vợi đi nhiều. Hạnh nhìn tôi cái nhìn ngầm chứa vẻ vừa trìu mến vừa chọc ghẹo như hôm Hạnh bất ngờ xuất hiện ở phòng tôi vào lúc nửa đêm.

- Cậu giả vờ ngây thơ hay cậu thấy Hạnh dốt mà nói vậy. Có gì giống với không giống Hạnh ở đây.

- Chứ Hạnh cười gì?

Hạnh dùng chiếc ống hút bằng nhựa xoay xoay cục nước đá trong ly. Gió làm những sợi tóc bay lòa xòa hai bên má.

- Thời gian về đây Hạnh nhận ra là má rất tinh tế, còn cậu thì thật ngây thơ. Cậu đừng giận và cũng đừng hiểu lầm sự ngây thơ này với điều “giả vờ ngây thơ” thuộc lãnh vực nghề nghiệp của cậu mà Hạnh nói vừa rồi. Hạnh cũng không có ý chê trách cậu đâu, thậm chí còn quý cậu nữa. Ý Hạnh là sự ngây thơ của cậu thật dễ thương. Chính vì vậy mà Hạnh không thể không cho cậu biết điều mà đến lúc nhắm mắt má cũng không nỡ nói.

- Điều gì có vẻ nghiêm trọng vậy? Chị Hai không nói, nhưng sao Hạnh cũng giấu cậu? - Trong tôi thoáng nghĩ đến lai lịch của cha đẻ Hạnh.

- Cậu trách thì Hạnh chịu nhưng Hạnh tin rằng sau này cậu sẽ hiểu. Có những sự thật mà lúc nào cũng được phơi bày đến mức trần trụi chưa hẳn đã hay.

*

* *

Và bây giờ, sự thật đó nằm gọn trong bức thư Hạnh gửi cho tôi qua đường bưu điện sau một tuần tôi về đến cơ quan.

“An Thủy, ngày... tháng... năm...

“Anh Bình,

Chắc anh ngạc nhiên vì cách xưng hô này, không phải là cậu với Hạnh nữa. Bởi em là Mai - cái tên mà anh biết được ở quán Phong Lan - chứ không phải “cô bé Gió Bấc” thất lạc ngày nào. Cái tên Hạnh chỉ là một trò đùa với gã khờ là anh lúc đó, không ngờ có sự trùng hợp lạ lùng. Cả vết thẹo nữa. Có điều vết thẹo này không do phỏng mật hồi nhỏ đâu (chuyện này anh không cần biết làm gì khi nó quá thường tình trong giới tụi em). Thật lòng Mai đã xúc động trước nỗi đau của người mẹ mất con và trước sự dằn vặt của người trót gây lỗi lầm cho kẻ khác, dù do sự vô tình. Lúc ấy em ước mình chính là Hạnh - “cô bé Gió Bấc” biết bao nhiêu. Em không tốt đến mức chỉ nghĩ đến đem lại niềm hạnh phúc cho Má trong những ngày cuối cùng hay để trút bỏ niềm ân hận quá đáng của anh đâu, mà chính là vì em. Khi một người sắp sửa chết đuối muốn vào được bờ ít ra cũng cần chiếc phao để bám víu - Và cái vai “cô bé Gió Bấc” chính là chiếc phao ấy. Mai tin việc mình đem lại niềm hạnh phúc cho người khác chính là sức mạnh giúp Mai vững bước trên đường làm lại cuộc đời.

“Anh biết không, Má nhận ra vai diễn của Mai ngay ngày đầu tiên. Dĩ nhiên lúc ấy không ai nói điều gì nhưng cả Má và Mai đều hiểu. Giờ thì chắc anh nhận ra vì sao đến phút cuối Má cũng không nỡ nói với anh sự thật này. Chính điều đó, trong những ngày sống với Má Mai mới nhận ra rằng: Sự hướng thiện dẫu sao cũng chỉ là niềm an ủi nhất thời chứ chưa phải đem lại niềm hạnh phúc trọn vẹn.

“Bây giờ Má không còn, không lý do gì Mai đóng giả Hạnh nữa. Anh đừng nghĩ thời gian qua Mai là “cô bé một mình nghịch sóng” (dù Mai hiểu điều này không liên quan gì đến ý tưởng bức tranh anh vẽ ngoài bãi biển). Những ngày tháng ở đây sẽ là kỷ niệm đẹp nhất đời em, nên từ bây giờ cái tên Mai Hạnh sẽ đi theo em suốt quãng đời còn lại. Yên tâm đi, Mai sẽ không trở lại đường cũ đâu “Gã khờ cuối thế kỷ” ạ.

Em tin rằng rồi sẽ có ngày anh tìm gặp được Hạnh - “cô bé Gió Bấc” thất lạc ngày nào”.

Mai Hạnh của anh”.



Tác giả giữ bản quyền.

N.T (Bến Tre)

Tiếng hú trong đêm hội Lăng - truyện ngắn của NGUYÊN TÙNG

Tôi chụm hai bàn tay vòng quanh miệng thành hình loa định hú một tiếng, thì nghe tiếng Miên từ trong nhà vọng ra:
- Điên hả?
Tiếng cười Miên vỡ ra, rũ rượi. Tôi ngượng ngùng, tần ngần một lát rồi lững thững bước vào nhà ngồi xuống chiếc ghế cạnh máy may của Miên. Tiếng trống chầu từng hồi dài giục giã phía bên lăng vọng lại. Trống báo hiệu mọi người hội tụ để cúng lễ đầu tiên của ngày hội lăng. Nắng đã tắt. Dòng sông trước mặt tôi đã nhàn nhạt bởi ánh trăng.

- Sông bây giờ rộng lắm, không còn ai hú nữa!

Tôi cố đùa để xua đi cảm giác hụt hẫng vừa rồi, nhưng giọng vẫn nghe buồn buồn:

- Thì tôi hú. Lâu ngày về thèm hú như ngày xưa quá!

- Đâu còn cái thời Miên là cô lái đò nữa. Bây giờ người ta đưa khách bằng đò máy, ngày bốn chuyến, giờ giấc hẳn hoi.

Đâu phải tôi ngây thơ quá mức để không nhận ra điều đó. Nhưng không biết sao tôi thấy buồn. Đó là nỗi buồn đầu tiên ngày tôi trở lại làng quê dự hội lăng sau ngót ba mươi năm.

Ba mươi năm. Ừ, khoảng thời gian không phải là dài nhưng cũng đủ làm cho tôi, Miên không còn trẻ trung nữa. Cả Quang. “Quang bây giờ chững chạc và trẻ hơn anh”. Tôi cười khi nghe Miên nói ra cái điều nghịch lý ấy, nhưng về phía tôi. Có nghĩa là tôi già nua, khắc khổ mà hết sức trẻ con. Nhận xét ấy giống như ai đó có lần so sánh tôi với cánh diều. Không cãi, nhưng thâm tâm tôi không thích. Dẫu sao, nó chỉ là vật do người ta uốn nắn, phất lên lớp giấy bồi với sợi dây lèo nghiệt ngã. Nó bay liệng, hát ca nhưng trẻ con quá khi quên rằng dưới ức và bụng nó lúc nào cũng có sợi dây khi chùng, khi thẳng. Tôi thích là cánh chim hơn dẫu chỉ là con sẻ tầm thường. Là chim thì cũng không thể nào vượt qua khỏi cái không gian giới hạn của nó. Vậy mà tôi chấp nhận nó như chấp nhận cái thực thể là tôi có mặt trên cõi đời này.

- Quang không về đây nữa, lâu rồi. Ngày Tết và cả ngày hội lăng này.

Miên nói khi chúng tôi đi băng qua đồng muối, tiến về phía tiếng trống. Trăng sáng lóa hắt lên từ dưới những khung ruộng muối đầy ắp nước. Trăng sáng quá nhưng bàn chân tôi cứ mãi bị trợt dưới ruộng. Không biết vì bờ quá nhỏ hay vì tiếng trống cứ thúc liên hồi. Ba mươi năm rồi, tiếng trống cứ mãi giục đến ríu cả chân, nôn cả ruột gan như lúc tôi còn là đứa trẻ con mười hai tuổi. Mãi sau tôi mới hỏi lại Miên:

- Lâu về hay không về?

Miên vẫn không quay lại:

- Với anh thì là lâu về. Còn Quang bây giờ có thể nói là không.

- Chắc vì Quang bận. Ở cương vị anh ấy...

Tôi không thể nói hết câu vì tiếng cười của Miên. Tiếng cười nhỏ nhưng cay độc, nó vạch trần được suy nghĩ của tôi.

- Ai buộc anh phải biện hộ khi lời biện hộ đó không thật với lòng anh. Tôi có bắt anh phải tin tôi đâu, nhưng lời anh vừa nói là dối.

- Sao Miên biết?

- Ở cách nói, ở giọng điệu. Những người như anh thì nói dối tồi lắm, người ta nhận ra ngay thôi.

Tôi chịu. Và cảm thấy sợ cô gái này. Cũng phải thôi, vì tôi biết rằng Miên hiểu Quang nhiều hơn tôi. Miên đã đánh đổi cái thời tươi đẹp nhất của mình để hiểu Quang. Còn tôi, dẫu gì tôi cũng có khoảng thời gian cách biệt.

Bộ ba chúng tôi gắn bó với nhau từ những ngày thơ ấu. Chúng tôi sinh ra, lớn lên ở cái làng quê heo hút ven biển này. Quanh năm chỉ toàn nước mặn. Xóm chúng tôi chỉ lơ thơ vài ba chục mái nhà cụm trên bờ hạ lưu của sông Ba Lai. Thuở ấy sông không rộng lắm. Đứng bên này hú một tiếng thì người lái đò bên kia sông đã nghe, quay mũi chèo qua. Tôi, Quang và cô bé Miên suốt ngày cứ lê la ở bờ sông mặc cho cha mẹ đứa nào cũng la rầy, có hôm tôi cũng no đòn nhưng tánh nào tật nấy. Làm sao chúng tôi bỏ được cái thú đuổi theo những chú còng gió. Buổi trưa nắng gắt, trên khu láng trống sát mé bãi như rực lên một màu hồng chấp chới. Những chàng nhạc sĩ còng đang nhịp càng một cách đều đặn và say mê. Chúng tôi nấp vào sau những mô đất theo dõi. Thảng hoặc có một vài chú nhịp lạc đi cái nhịp của cộng đồng bỗng xếp càng lại chạy vòng quanh một lúc rồi trở về vị trí cũ mà bắt vào cái nhịp chung. Chúng tôi ngồi im và có khi ghìm cả hơi thở chờ có dịp là nhào ra tóm một chú ở gần nhất hoặc đuổi theo một chú lạc hang. Chỉ là thú vui hết sức vô tư thôi chứ nào phải để làm gì. Nếu cần bắt, chỉ một cây móc trong tay là phút chốc đã có cả chục con. Đuổi mãi cũng chán Quang mới nghĩ ra cách khác. Cậu ta lấy sợi nhợ thắt thòng lọng vòng quanh miệng hang, sợi dây được dẫn ra xa hàng chục mét và chúng tôi nằm rạp xuống mặt đất chờ. Chú còng thấy yên tĩnh bèn bò lên miệng hang nhịp. Quang giựt, chú còng bị mắc càng vào dây. Vậy là được một trận cười giòn giã.

Chúng tôi thích kéo nhau ra bờ sông còn vì một lý do khác nữa. Chỉ cách một dòng sông, một tiếng hú dài nghe được mà như hai thế giới cách xa. Bên này bờ sông khu xóm nhà tôi trơ trọi, hoang dã, hiu hắt bao nhiêu thì bên kia sông xóm làng trù phú, sung túc và nhộn nhịp bấy nhiêu. Dãy nhà ngói đỏ tươi ẩn hiện sau hàng dương là điểm thu hút tầm nhìn của bọn trẻ chúng tôi. Những buổi sáng, mặt trời lên đến ngọn dương, nước sông đầy ắp dội lại tiếng máy chà lúa, những đám khói bốc cao lan tỏa của lò nấu muối càng làm tôi mê mẩn. Tôi ngồi ở bến đò nhìn qua mơ ước một ngày nào đó khu xóm chúng tôi cũng được như bên ấy.

Rồi chiến tranh. Chiến tranh đã hun đúc ước mơ của chúng tôi thành một khối. Miên là cô lái đò đưa khách và đưa người chiến sĩ qua sông.

Thoắt cái đã ba mươi năm. Tâm trí tôi đang mải lùi về với ước mơ thời tuổi nhỏ, chợt rợn người khi tiếng cười ma quái cất lên. Dưới tán cây mấm khổng lồ lấm tấm những vệt trăng, một bóng đen thô kệch, méo mó, đầu tóc bù xù mặt quay nhìn lòng lạch cạn queo cười điên dại. Xong trận cười là chuỗi dài những lời lảm nhảm không ai nghe được gì. Lại một tràng cười, đôi khi chỉ là sự há miệng rộng hoác mà không thành tiếng. Mặc cho tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng đàn hát cúng bái rộn rịp phía trong lăng; mặc cho tiếng cười, tiếng nói, tiếng chân rậm rịch chung quanh, người ấy đứng hướng mặt về phía lòng lạch cạn khô cười nói một mình.

- Anh nhớ ai không? - Miên hướng mắt về phía khối đen, hỏi tôi.

- Nhớ. Ngày xưa mình hay theo sau lưng bà vỗ tay la ầm lên: Bà Đáng là bà Đáng điên, bà không tham tiền...

- Bao nhiêu năm rồi vẫn vậy. Vẫn lang thang khắp làng, ai cho thì ăn, không cho thì thôi. Không mời, đói lả vẫn không mở miệng hỏi xin. Không biết ăn cắp, ai bỏ tiền trước mặt vẫn chửi: đồ hư. Miên cười rộng lượng, tiếng cười rất thật với cô bé Miên ngày nào.

- Miên đúc kết nếu không phải về bà Đáng thì đó là một người hoàn thiện, rất tốt và rất... người.

- Không. Một người như vậy người ta vẫn cho là điên! Anh biết không, bà ấy điên điên, dại dại vậy chớ năm nào cúng lăng cũng có mặt bà.

- Vậy là cũng có lúc bà tỉnh và nhớ?

- Không ai biết. Thường ban đêm bà không đi đâu. Chỗ ngủ duy nhất của bà là một góc của trường học cách đây hơn cây số. Chỉ đêm này hàng năm là bà có mặt. Còn Quang tỉnh và nhớ nhưng đã mười lăm năm nay không về!

Ôi, Miên đã kéo tôi về với dĩ vãng nữa rồi. Nỗi đau của Miên gấp nhiều lần hơn tôi đã tưởng. Bỗng nhiên tôi không còn thấy hứng thú giữa khung cảnh ồn ào náo nhiệt này mà muốn về nhà Miên, cái quán ở bờ sông, dù là một mình để sống với kỷ niệm. Miên biết không, tôi vẫn nhớ rằng ngày hội lăng là ngày giỗ tổ của dân làng biển. Những người sinh ra nơi đây lớn lên dù có tha phương, ngày Tết có thể không về, nhưng ngày hội lăng nhất thiết phải có mặt. Không ai bắt buộc nhưng mặc nhiên tự mỗi người phải biết. Cảm ơn Miên đã hiểu tôi. Lâu về nhưng tôi vẫn nhớ, không chỉ là ngày hội với những lễ nghi mà từng khu láng trống, những chú còng gió với những con người như bà già điên tuổi gần chín mươi vẫn in đậm trong trí tôi. Và Miên nữa.

*

* *

Hơn mười năm, Miên đã theo Quang lên thị xã. Anh thu xếp cho Miên một chỗ làm nơi cơ quan bạn có phần vượt hơn khả năng của cô. Họ đến với nhau thường xuyên, nồng nhiệt như lứa tuổi đôi mươi. Cặp tình nhân đẹp đôi ấy đã làm cho rất nhiều người ao ước đến mức thoáng chút ganh tị. Từ hàng lãnh đạo đến nhân viên của cả hai cơ quan đều mong chờ ngày vui nhất trong đời của họ. Có đến hàng trăm lần Miên đã sống với ngày ấy trong mộng. Quang đến rồi đi với bao lời hứa. Miên vẫn khát khao mãnh liệt, vẫn mơ ước đến cháy lòng cuộc sống hạnh phúc của hai người. Không phải để mình thành bà nọ, bà kia theo địa vị của anh ấy mà chỉ để thành vợ Quang. Để được sống trọn vẹn với người tình mình đã chọn. Rồi năm tháng va chạm với cảm quan đặc biệt của mình Miên đã nhận ra sự thật. Không phải như bao nhiêu lần ái ân Quang đã rót mật vào tai Miên là vì công việc, vì nhiệm vụ chung hết sức nặng nề nên tình riêng phải đành gác lại. Cán bộ công nhân viên cả hai cơ quan càng ngày càng bàn tán chuyện Quang không thể nào cưới vợ được vì vết thương cột sống ngày xưa giờ đã bị vôi hóa. Không biết tin đó từ đâu và từ lúc nào. Rất nhiều người tỏ ra thương hại, tội nghiệp cho Miên và họ xem vị thủ trưởng của mình như vị thánh sống. Một người chỉ biết lấy công việc làm thú vui, sống trọn đời vì lý tưởng. Không ai nghi ngờ về phẩm chất đạo đức của anh. Bởi vì người đàn ông có chức quyền, danh vọng họ chỉ có thể sa ngã vì gái và tiền. Gái là để thỏa mãn cái dục vọng muôn thuở của đàn ông, còn tiền là để vun quén, cung phụng cho vợ con. Với Quang thì cả hai đều không thể có. Và chính vì vậy anh trở thành ngôi sao lấp lánh nhất trong cơ cấu nhân sự của các vị bề trên. Chẳng bao lâu sau anh đã được cất nhắc. Chỉ một mình Miên hiểu Quang, hiểu được con đường anh đang đi và hiểu rõ cả khả năng đàn ông trong người anh. Nhưng thôi, ai tin Miên. Cô cũng không muốn mình là vật cản. Miên đau nhưng không hề hối hận. Về quê, cô dựng lên tiệm may nơi khu láng trống ngày xưa cạnh bờ sông, chắp vá bao kỷ niệm. Hàng ngày, những chú còng gió cứ tha hồ nhịp. Lũ trẻ bây giờ không nghĩ được cái cách chơi lắc léo như Quang ngày nào.

*

* *

Nồi cháo sò sôi ì ạch một cách lười nhác. Tôi cời than ra để dần thêm ấm nước. Miên đã mạn xong chiếc áo của anh thợ đáy lúc chiều đem đến. Bỗng Miên hỏi tôi, câu hỏi mà tôi không hề chờ đợi:

- Anh thấy làng mình thay đổi nhiều không?

- Về cái gì?

- Về tất cả, như ước mơ ngày xưa của ba đứa.

Vô ý tôi đã đặt ấm nước chông chênh trên một thanh củi to còn cháy dở làm ngã nhào. Những hòn than đỏ rực tắt ngấm. Khói bốc lên làm tôi cay xè đôi mắt. Bực với chính mình, tôi bỏ mặc chiếc ấm nhếch nhác bụi than, đi lại bộ vạc tre ngồi phịch xuống. Bây giờ Miên hỏi giục tôi bằng ánh mắt:

- Tôi thấy bờ sông giờ đã xa hơn. Lòng sông rộng hơn. Làng bên kia càng giàu hơn. Tiếng cười của bà Đáng nghe ghê hơn. Và Miên già hơn.

- ... Anh thì trẻ con hơn!

Tôi ngắc ngứ và nghe lòng đau thắt. Phải, tôi quá trẻ con bởi bao năm rồi tôi cứ ngỡ rằng Miên hạnh phúc. Là cô lái đò Miên đã đưa Quang cập bến. Anh bước lên bờ hẹn ngày trở lại. Nhưng rồi không.

Ngoài sân, những khung ruộng muối đầy trăng. Làng tôi hôm nay sao nhiều trăng quá. Trăng lồng trong những khung ruộng muối đầy ắp nước, càng làm tăng thêm cái ánh sáng lạnh lẽo và có phần giả tạo. Tôi bước vội ra ngoài ngồi xuống lấy tay khỏa nước trong một khung ruộng muối. Những gợn sóng lăn tăn đã băm vằm mảnh trăng ra từng mảnh nhỏ. Ừ, tất cả chỉ là ảnh ảo. Tôi nhủ thầm như vậy. Thật kỳ lạ, những gợn sóng băm vằm mảnh trăng ấy không thể xóa nhòa mà càng lúc càng rõ nét khuôn mặt méo mó, cùng tiếng cười ma quái của bà Đáng. Tiếng trống, tiếng đàn bên hội lăng đã ngưng từ lúc nào trả lại cho khu xóm lơ thơ vài ba chục mái nhà này một sự im ắng, nhuốm phần chết chóc. Phải chi có tiếng gọi đò. Trong mơ hồ tôi cảm giác tiếng gọi đò sẽ làm thức dậy cái khung cảnh im lìm đáng sợ này. Ôi, tôi thèm một tiếng hú.

Chạy ra bờ sông, chụm hai bàn tay vòng quanh miệng tôi hú một tiếng dài. Tiếng hú vang lên, vươn dài trên mặt nước bàng bạc ánh trăng rồi mất hút trong hiu hắt của màn đêm.

Tôi quay vào như người kiệt sức. Bỗng tôi khựng lại sững sờ vì trước hiên nhà Miên có một bóng đen đầu tóc bù xù đang ngửa mặt nhìn trăng cười điên dại. Tiếng cười không có âm thanh.

11/1990



Tác giả giữ bản quyền.

N.T (Bến Tre)

Nơi bến sông xưa - truyện ngắn của NGUYÊN TÙNG

Cuối cùng thì Thuận cũng dừng xe lại. Anh bước xuống tiến lại gần ông già đang đứng bên vệ đường phía trước khoảng năm mét, tay vẫn còn đưa thẳng ra trong tư thế đón xe.
- Đi chơi nghen!

Thuận nói, nắm tay dẫn ông đến cửa xe rồi đỡ ông lên ca bin chiếc Benz. Ông lão vẫn im lặng và ngoan ngoãn làm theo. Đã chín giờ đêm. Trăng mười bốn thập thò bởi những đám mây mỏng bay lướt làm cảnh vật bên dưới lúc thì sẫm lại, lúc hiện ra sáng trong, mây mẩy. Thuận biết mình vừa làm một việc mà từ lâu anh tự nói với lòng là không được phép làm. Nhưng đêm nay trong chuyến chở đất cuối cùng ra công trường Thuận không đành lòng chạy vút qua, bỏ mặc ông lão như bao lần khác. Đã nhiều ngày rồi, ông Hảo - tên ông lão - vẫn đứng ở ngã ba này, nơi ngã rẽ ra hướng bờ sông chờ những chiếc xe chở đất ra công trường là giơ tay đón. Không ai dừng lại, Thuận cũng vậy vì đó là một ông già lơ ngơ, lẩm cẩm. Với Thuận thì ông Hảo không xa lạ gì bởi Thuận là người duy nhất trong đội xe tải chuyển đất ra công trường quê ở làng này. Thuận biết ông từ lúc anh còn là đứa trẻ con, vả lại ông Hảo cũng rất nổi tiếng vì cá tính kỳ quặc của mình. Vài ba năm trở lại đây một cơn tai biến mạch máu não đã biến ông thành một con người hoàn toàn khác. Từ một ông già sức khỏe còn lực bạt, nhanh nhẹn giờ trở nên chậm chạp, ăn nói khó khăn, trí óc mụ mẫm khi nhớ, khi quên.

- Chút nữa đổ đất rồi tôi dẫn bác về nhà tôi ngủ, chịu hôn?

- Chịu. - Ông lão vừa trả lời vừa gật đầu.

- Rủi con bác đi kiếm, làm sao?

- Tụi nó... không... kiếm đâu!

- Sao vậy?

- Tui ở... một... mình. Muốn đi... đâu... thì đi.

Hỏi thì hỏi vậy, chứ Thuận biết những người con của ông đều ra ở riêng kể từ khi vợ ông đột ngột chết vì một cơn nhồi máu cơ tim. Chúng nó khắc nhau như lửa với nước, hễ gặp nhau một lát thì y như rằng có cuộc khẩu chiến xảy ra. Chung quy là chúng giành nhau quyền thừa kế căn nhà. Không ai chịu ai, cuối cùng đành phó mặc ông lão ở một mình, nếu có ai ghé qua cũng chẳng khác nào thăm bẫy.

Không muốn khơi sâu câu chuyện về hướng này, Thuận lái sang chuyện khác.

- Bác biết ba tôi không?

- Biết.

- Ai?

- Hai Nhàn.

- Còn tôi?

- Thằng Thuận... còi... cọc.

Thuận cười thành tiếng. Ngó qua, nhờ ánh sáng của trăng dọi vào Thuận thấy ông Hảo cũng cười, nhưng là cái cười dài dại của người trí não không còn được minh mẫn. Giọng nói của ông ngọng líu, phát âm từng tiếng một cách khó khăn. Thuận cũng không ngờ ông ta còn nhớ cái biệt danh “Thuận còi” mà lũ bạn cùng lứa đặt cho anh hồi còn nhỏ vì tướng tá anh ốm yếu, còm nhom, lại còn biết thêm vô chữ “cọc” để pha trò. Thuận thấy tội nghiệp ông lão. Đến bây giờ Thuận vẫn không hiểu sao má anh hận ông ta đến chết cũng không nhìn mặt, còn cấm tuyệt đối Thuận không được đi ngang nhà ông. Nhà ông Hảo ở tại ngã ba, cách chỗ ông đứng lúc nãy chừng năm chục thước. Nhà Thuận ở xóm ngoài Vàm cách ngã ba hơn cây số, tại bến đò ngang. Ba Thuận làm nghề đưa đò, chiều tối và khuya còn đi lưới cá để nuôi Thuận ăn học. Từ nhà Thuận muốn đến chợ hay trường học nếu rẽ ở ngã ba trước cửa nhà ông Hảo là nhanh nhất nhưng má Thuận không bao giờ đi đường này. Bà rẽ vào con lộ nhỏ cách nhà ông chừng hai trăm thước, từ đây đến được chợ phải đi vòng vèo xa hơn rất nhiều. Vậy mà cả một thời cắp sách đến trường ở làng này Thuận phải đi theo lối đó, vì anh không muốn mẹ buồn.

Đối với một đứa trẻ dù có ngoan ngoãn nghe lời mẹ dạy đến đâu thì cũng có lúc do bản tính hiếu kỳ nó muốn làm ngược lại cái điều bị cấm đoán. Thuận cũng vậy. Và chính cái lần lén cãi mẹ ấy nó đã thật sự thấy ông Hảo đáng ghét, để từ đó mỗi khi đi học dù mưa gió, đường sá trơn trợt cỡ nào nó cũng không đi con đường trước cửa nhà ông.

Năm đó Thuận mới học lớp Hai. Một hôm cả làng bỗng xôn xao lên vì cái tin sắp xảy ra một đám cưới lạ thường. Đám cưới ma. Không riêng họ hàng thân tộc của hai gia đình đôi tân hôn mà bà con lối xóm cũng nhận được thiệp mời. Người ta ngạc nhiên đến ngỡ ngàng, tưởng như mình hoa mắt, nhìn gà hóa cuốc, rồi lại đâm ra thắc mắc hỏi lẫn nhau vì ngỡ có sự nhầm lẫn nào trong khâu in ấn khi rõ ràng tên cô dâu chú rể trên tấm thiệp cưới là hai cô cậu đã chết cách đó không lâu. Đến lúc biết đó là thật, sự tò mò càng khiến họ rủ nhau đi dự rất đông để tận mắt chứng kiến đám rước dâu có một không hai này. Điều kỳ lạ là đám rước sẽ chính thức diễn ra ở ngã ba lộ giồng, trước cửa nhà ông Hảo. Hôm ấy Thuận nhập vào bọn trẻ cùng xóm kéo nhau đi xem.

Thuận nghe người ta kể: Hơn ba tháng trước, nơi ấy đã xảy ra một tai nạn giao thông khủng khiếp khiến cả hai người đi xe đụng nhau đều chết. Một cô gái đẹp nổi tiếng của xóm Giồng, mười chín tuổi, tiếp viên nhà hàng Phi Á trên thành phố. Còn chàng trai hai mươi tuổi là con ông chủ lò heo giàu nhất ở xóm Chợ. Hôm ấy cô gái về thăm nhà còn chàng trai đang trên đường đến nhà bạn để rủ nhau đi hát Karaoke. Ai cũng gấp gáp nên chạy nhanh, đụng nhau chết liền, chắc chưa kịp nghe đau. Ông Hảo đang lúc ra sân thắp hương ở bàn ông Thiên nên chứng kiến rõ cái giây phút bất thần đó.

Người ta lại kể: Khoảng một tháng sau cả hai gia đình nạn nhân đều có những giấc mơ giống nhau. Cô gái và chàng trai về báo mộng là họ đã có duyên tiền định, nhưng số họ vắn nên không thể thành vợ thành chồng ở chốn dương gian mà họ phải gắn bó nhau nơi âm cảnh. Nhưng dù chốn dương gian hay âm cảnh thì họ cũng không thể vượt qua vòng lễ giáo mà cần có sự tác hợp của cha mẹ hai bên. Họ cũng cho biết ông Hảo - người duy nhất nhìn thấy cuộc “tương ngộ” của họ - chính là ông mai cho cuộc thành hôn.

Đám rước diễn ra long trọng, tàng lọng, mâm quả đủ đầy. Có cả dâu phụ, rể phụ và hơn ba mươi người hai họ. Xuất phát từ nhà trai họ đến ngã ba để “chú rể” nhập vào rồi đến nhà gái làm lễ đón dâu. Khi trở về dòng người đông hơn vì có họ nhà gái, cũng đi đến ngã ba để “cô dâu” lên xe hoa. Ông Hảo trịnh trọng trong lễ phục truyền thống - khăn đóng áo dài - đúng nghĩa một ông mai.

Thuận chen chúc trong đám trẻ hiếu kỳ đứng ở bên đường xem đám rước đi qua. Chúng đồng thanh hô to: Đám cưới ma, đám cưới ma. Á ngộ!... Có lẽ trong đám trẻ ấy Thuận là đứa hét to nhất. Ông Hảo rẽ đoàn bước tới, không nhằm vào mấy đứa khác mà chỉ nhằm vào Thuận, dang thẳng tay tát vào má nó một cái tóe lửa: “Đi về nhà, đồ mất dạy!”. Phần đau, phần tức vì bị đòn oan, Thuận trốn vào bụi trâm bầu khóc tức tưởi. Lúc này nó mới thấy ông Hảo đáng ghét làm sao. Dĩ nhiên là chuyện bị ông Hảo tát tay được nó giấu biệt với ba mẹ, nhưng kể từ đó Thuận không bao giờ đi con đường qua cửa nhà lão già đáng ghét đó.

*

* *

Kể ra thì không chỉ riêng mẹ con Thuận không ưa ông Hảo. Ở làng này hình như ông là một trong những đề tài để người ta mỉa mai, châm biếm. Dáng người lùn tịt không hơn thước rưỡi, bắp thịt cuồn cuộn, săn cón, tóc hớt “đờ mi cua” cao nghệu. Người ta nói tướng đi của ông như tướng vịt xiêm. Tuy vậy cái khuyết tật bẩm sinh ấy cũng không ai nỡ cười cợt nếu như ông không có những nết khác người. Ai đời, ở những năm cuối của thế kỷ hai mươi rồi mà mỗi bữa dẫn trâu đi cày, dù cày mướn hay cày cho ruộng nhà, ông đều lận theo một mo cơm nếp. Cơm nếp nấu với nước cốt dừa thêm vô chút đường, chút muối, vo tròn thành năm hoặc bảy vắt to bằng nắm tay. Ông để các vắt cơm vào tay nải được làm bằng mo cau tơ. Phía trên tay nải có chừa một khoảng trống vừa đủ thò tay vào bốc lấy nắm cơm. Tay nải cơm ấy được ông Hảo cột vào đầu của đoạn trúc dài khoảng hai thước.

Dẫn trâu xuống ruộng bắt ách xong, ông đem cây-sào-mo-cơm cắm ở giữa ruộng, độ chừng cách đường cày đầu tiên khoảng ba lối cày. Cứ vậy, ông đánh trâu ba vòng, tới mo cơm thì trâu lại bốc lấy nắm cơm, tiện thể dời cây sào cách khoảng ba đường cày nữa về phía trong bờ mẫu rồi vừa đánh trâu vừa ăn. Nghĩa là càng lúc đường cày càng rộng ra, thời gian đến gần cây sào bốc được nắm cơm sẽ càng lâu hơn. Thấy ông chẳng giống ai, như mẫu người sót lại của hồi đầu thế kỷ, có người hỏi: “Sao không nghỉ, ăn mẹ nó đi rồi làm. Tội nợ gì phải hành xác cho khổ thân vậy?”. Ông ta cười, nhưng ánh mắt lóe lên tia nhìn nghiêm nghị: “Làm ăn mà, có phải ăn chơi đâu!”, rồi vừa bước đi ông vừa lẩm bẩm như tự nói với mình nhưng cũng vừa đủ để người đó nghe: “Làm như mấy người chỉ tổ phí thời gian”.

Nói cho cùng thì chuyện của ông hay cá tính ông nào có làm phiền ai, cũng không động phạm gì đến “hòa bình thế giới” nhưng người ta không ưa ông vì cái câu cao đạo mà họ chỉ được nghe loáng thoáng kia. Vậy là họ có cớ để ngồi lê đôi mách, đem chuyện ông ra mà bêu riếu. Họ nói rằng ông dại, cả đời làm thân quạ nuôi tu hú mà không biết. Con ruột của mình không ngó ngàng tới, lại trần lưng nuôi con kẻ khác. Đó là họ ám chỉ bốn đứa con của ông với bà vợ. Bà này về với ông đẻ sòn sòn hai năm một đứa nhưng người ta đồn thổi, cũng chẳng biết thực hư thế nào, là không một đứa nào đích thị là giọt máu của ông. Chẳng qua ông chỉ là tấm bình phong che chắn cho cái tính phóng đãng của bà. Bà có đôi mắt ướt rượt với thân hình bốc lửa. Môi mỏng và giọng nói vừa ngọt lịm vừa nũng na nũng nịu như một cô bé luôn vòi vĩnh. Lúc ấy đeo quanh bà đâu phải chỉ một mình ông mà có đến năm, bảy anh chàng, trong đó có người đã có vợ con mà chẳng chịu yên bề gia thất. Họ mê bà ở giọng ca ngọt lịm, quyến rũ nhất trong ban đờn ca tài tử của ông giáo Thụ - một nghệ nhân nổi tiếng trong làng. Nhưng đối với anh nông dân Hảo đặc biệt hơn, ngoài mê mẩn giọng ca, anh chàng còn bị hốt hồn bởi thân hình ẻo lả, uyển chuyển của cô nàng trong điệu múa bông vào dịp cúng đình. Không biết sao trong mắt anh chàng, điệu múa mà nhiều người cho rằng rất đồng bóng và linh thiêng, lại có sức gợi tình đến vậy. Trong anh chợt lóe lên ý nghĩ được độc quyền chiếm cô nàng. Cuộc hẹn hò và sự ưng thuận dễ dàng của cô đã làm anh chàng như bay lên mây bởi tâm trạng của người chiến thắng. Bất chấp sự phản đối của người mẹ góa, vào một đêm trăng liềm tháng tư, Hảo cho tất cả quần áo, một con dao, hai cái xoong một nhỏ, một lớn, hai cái chén, hai đôi đũa và một cây cuốc vào cái ú sành rồi vác chạy ra mảnh đất đầy tranh sậy nơi ngã ba lộ giồng. Một căn nhà nhỏ được dựng lên, dù chỉ bằng tre lá nhưng cũng đủ làm tổ ấm cho đôi uyên ương dám vượt vòng lễ giáo. Rồi chẳng bao lâu sau bằng sức cường tráng, lực bạt Hảo đã biến khu đất đầy tranh sậy thành vườn, nơi năn lác thành ruộng. Đây là mảnh đất của bên nội anh bỏ hoang nhiều năm vì lẽ trên đó bọn địa phương quân ngụy đóng bót, rồi bị đặc công đánh gọn, bỏ luôn.

*

* *

Cả vùng ánh sáng chói lòa phía trước soi rõ cái dáng sừng sững rợp bóng cờ của công trình cống đập ngăn mặn mà phía trên mặt thật sự là chiếc cầu nối liền hai bờ của một con sông lớn. Từ bao giờ người ở hai bên qua lại chỉ bằng chiếc đò ngang. Đã hơn ba mươi năm nay ba Thuận là ông lão đưa đò ở bến sông này. Ngày mai là lễ khánh thành công trình cũng tức là ngày ba Thuận thôi làm công việc đưa khách. Thuận cho xe đổ đất cách mố cầu chừng năm mươi mét, nơi mà ngày mai người dân các xã tập trung về dự lễ. Công việc đã xong phần còn lại là việc của xe ủi đất. Thuận lái xe về bãi xe dã chiến của công trường.

- Ơ... đẹp quá!

- Bác mới thấy nó lần đầu à?

- Ừ... mới... lần... đầu.

- Ngày mai tôi dẫn bác đi trên đó, nghen.

- Ừ, mai đi.

Thuận dẫn ông Hảo đi dọc bờ sông về hướng nhà anh. Chắc giờ này ba Thuận vẫn còn thức. Lúc sáng trước lúc Thuận ra công trường, ông Nhàn dặn: Hễ xong việc con về sớm. Bữa nay ba có làm mâm cơm cúng tạ thần sông, ngày mai không còn đưa khách nữa. Thuận vẫn nhớ nhưng vì công việc còn nhiều mà phải hoàn tất dù phải thức trắng đêm nên anh không nghỉ ca chiều. Giờ này về có thêm ông Hảo chắc là ba anh ngạc nhiên lắm. Nhưng Thuận biết thái độ của ba sẽ không gay gắt như mẹ anh. Nếu mẹ còn, chắc hẳn Thuận không bao giờ có hành động táo bạo này. Từ trước đến nay Thuận chưa hề thấy ba tỏ thái độ gì với ông Hảo. Cứ mỗi lần nghe ai - kể cả mẹ anh - nhắc đến ông Hảo, ba Thuận luôn tìm cách lãng tránh hoặc là im lặng. Ngay cả cái lần biết Thuận cãi mẹ lén đi bồi mương vườn nhà ông. Thấy ba mẹ cực nhọc quá Thuận muốn đỡ đần phần nào, để sang năm đi học lái xe tải có sẵn ít tiền cha mẹ đỡ lo nên Thuận hay đi làm mướn. Công việc ở quê, ai mướn gì làm nấy, thường là cuốc đất, bồi liếp hay đào ao nuôi tôm, nuôi cá... Vả lại có một điều Thuận luôn thắc mắc và muốn tự mình khám phá: Cái con người vừa kỳ quặc, vừa bí ẩn của ông Hảo. Chính vì vậy nên Thuận cùng hai bạn làm công khác nhận bồi hơn một mẫu vườn dừa nhà “lão già đáng ghét” đó. Hôm tới làm lão nhìn chằm chằm Thuận, Thuận cũng nhìn lại, và cái tát tay oan ức ngày nào chợt sống lại trong đầu anh. Nhưng rồi lão quay sang Hải, đầu công - người nhận khoán trực tiếp công việc với lão, nói:

- Có mấy mương vườn mày với thằng Quí làm được rồi, để thằng này - lão hất hàm về phía Thuận - ở đây phụ với ông thợ mộc đóng cho tao một ít bàn ghế.

- Tôi không biết làm mộc. - Thuận nói khô khan.

- Ai bảo mày làm thợ. Mày phụ với tao soạn cây, bào chút đỉnh để thợ họ đóng ráp cho nhanh thôi chứ có bắt mày đóng đâu mà sợ.

Sợ thì có gì mà sợ. Làm dở, thậm chí không được việc như ý ông là tại ông chứ có phải do tôi đâu. Tôi đến để bồi vườn chứ không phải làm thợ mộc. Là tôi bực vì cái công việc tréo ngoe, không phải là việc tôi đã từng làm. Thuận nghĩ thầm như vậy. Nhưng rồi cái tính ương bướng và hiếu kỳ khiến cho Thuận dễ dàng ưng thuận, trong lòng còn tỏ ra thích thú nữa. Đây là dịp để hiểu rõ con người ông Hảo hơn. Hóa ra công việc lại nhẹ nhàng hơn Thuận tưởng và đôi lúc Thuận có cảm giác chính anh là người được học việc, chứ không phải kẻ làm công mà ông Hảo cố tình tạo điều kiện. Hình như có sự thỏa thuận nào đó, người thợ tuổi cũng suýt soát ông Hảo, vui vẻ, ân cần chỉ cho Thuận từng đường cưa, lưỡi đụt. Không bao lâu Thuận sử dụng thành thục bộ đồ nghề thợ mộc và có thể đóng được những món đồ đơn giản. Ông Hảo rất thích vật dụng trang trí trong nhà bằng gỗ, nhưng ông không bao giờ mua đồ đóng sẵn ở tiệm mà mua cây rước thợ về nhà đóng. Bởi vậy người trong làng thường nói: Lão già Hảo có hai đức tính tốt: một là nuôi con vợ, hai là nuôi thợ mộc.

Cứ mỗi chiều ông Hảo trả tiền công cho Thuận bằng giá tiền của ông thợ cái, dĩ nhiên là cao hơn tiền bồi vườn khá nhiều vì ở nông thôn việc sên ao, bồi vườn được xem là công việc lao động giản đơn. Chuyện ấy có làm cho Thuận thắc mắc nhưng rồi cũng chẳng để tâm. Ở tuổi mười tám, Thuận chỉ nghĩ có lẽ do ông lão trái tính trái nết. Có lúc nghĩ lại, Thuận cũng thầm cám ơn ông, nhờ đó mà Thuận dành dụm được số tiền kha khá đưa cho mẹ.

- Má tôi ghét bác lắm, bác biết hôn? - Bất chợt Thuận hỏi, câu hỏi mà trước đây anh không hề nghĩ là sẽ hỏi thẳng ông Hảo.

- Biết. Tới chết... bà... cũng còn... giận... tui.

- Sao vậy?

- Tui... có lỗi...

- Bác kể tôi nghe đi.

Ông Hảo nhìn Thuận. Dù ánh mắt đờ đẫn chứ không còn tinh anh như trước nhưng Thuận cảm nhận được trong đó chất chứa những điều khó nói.

- Về... gặp... Hai Nhàn... ba cậu... đi.

*

* *

Thuận mở dây buộc ở gốc bần, bước xuống đò, cắm cúi chèo như một thằng điên dù con nước đang đổ xuôi dòng. Gió thổi thốc ngược nhưng chiếc ghe chín lá hai kèm vẫn lao về phía trước như một mũi tên do tay chèo cật lực cộng với sức nước từ thượng nguồn đổ về bị cống đập ép dòng, chảy qua các cửa cống mãnh liệt hơn. Từng chùm lửa đom đóm sáng xanh, lập lòe trên những rặng bần ven hai bờ sông là hàng nghìn, hàng vạn ánh nhìn lạnh lẽo xoáy vào nỗi bấn loạn trong lòng Thuận. Tay Thuận buông thỏng, rủ riệt bỏ mặc đò trôi. Điều biết được vừa rồi đã vượt xa trí tưởng tượng của Thuận. Trong thoáng chốc tưởng mình không còn đứng vững. Ông Hảo là cha ruột của Thuận. Cái lão già đáng ghét đó, người mà mẹ anh lúc còn sống không muốn nhìn mặt, không muốn ai, nhất là Thuận nhắc đến. Người đã từng đứng ra mai mối, se duyên đem lại hạnh phúc cho những kẻ chỉ là hồn ma bóng quế, còn với con ruột của mình thì như người dưng nước lả, không hề biết tới, người ấy lại là cha anh. Càng nghĩ Thuận càng chơi vơi, hụt hẫng, không muốn tin vào điều đó. Nhưng làm sao không tin khi mà chính ba anh - ông Nhàn - đã thừa nhận. Ba mươi năm trước trong một đêm bủa lưới ở sông tình cờ ông đã cứu người con gái. Người đó là mẹ anh. Cô quyết trầm mình mang theo giọt máu hoang vừa mới tượng hình trong bụng khi cả làng rộ lên việc anh chàng Hảo với “Đào Bích” - một cô gái vừa lẳng lơ vừa đồng bóng - đã chính thức sống chung. Không phải là sự lợi dụng của một ân nhân cứu mạng hay sự đáp đền của kẻ chịu ơn, cũng không phải là lòng nhân ái, hào hiệp thường tình của anh thanh niên miền sông nước mà Nhàn và cô gái vừa thoát khỏi bàn tay thủy thần kết nghĩa vợ chồng nhằm bịt miệng dư luận. Đối với Nhàn, anh cho rằng đó là cuộc gặp gỡ bất ngờ của số phận. Anh sẵn sàng chấp nhận đứa bé trong bụng cô gái là con anh. Khi đã qua cơn bấn loạn, người đàn bà bị bỏ rơi đành chấp nhận lời cầu hôn của Nhàn mà lúc đầu cô xem như là sự cưu mang. Tuy vậy giữa họ có sự thỏa thuận sẽ không chung đụng nhau khi một trong hai người chưa có tình yêu. Và phải ba năm sau, đôi vợ chồng ấy mới thực sự có đêm tân hôn.

VĨ THANH

Thuận khóc. Lần đầu tiên tôi thấy anh khóc. Cũng lần đầu tiên từ lúc quen nhau rồi ngỏ lời yêu tôi Thuận chưa hề có thái độ đó. Nửa đêm, tôi bỗng nghe tiếng gọi cửa: Hiền ơi, Hiền ơi... Tiếng gọi nhỏ mà thê thiết, mà như lạc giọng. Cửa mở, Thuận ào vào như cơn lốc, rồi rũ xuống. Tóc tai bù xù, mặt mày bợt bạt. “Chuyện gì vậy anh, ba...?”. Tôi ngỡ có chuyện gì xảy đến với ba anh. Thuận nhìn tôi, lắc đầu. Nước mắt Thuận ứa ra, dù tôi biết là anh đã cố kìm nén. Linh cảm của một người sắp làm vợ đối với người mình hết mực thương yêu tôi hiểu Thuận vừa trải qua một nỗi đau rất lớn, có thể là lớn nhất sau nỗi đau mất mẹ của anh.

Và suốt đêm ấy, đúng hơn là những giờ khắc còn lại của đêm ấy Thuận kể tôi nghe câu chuyện này. Anh nói anh đã phát cuồng khi biết được sự thật. Anh đã chèo như một thằng điên, không cần biết đang là nửa đêm, không cần biết phía trước mũi ghe đang lao vun vút kia là gì. May mắn là xe đã vào trong bãi đậu của công trường chứ nếu nó ở trước cửa nhà thì anh cũng không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Rồi anh rũ riệt, không còn chút sức lực. Cứ mặc ghe trôi. Trong đầu anh là khoảng trống mênh mông. Không biết thời gian trôi qua bao lâu, chợt tỉnh lại, Thuận uể oải chèo về. Cũng chẳng biết sao, như là sự vô thức, Thuận dừng ở bến nhà tôi.

Lúc bình tâm lại, Thuận nói rằng dù thế nào thì anh cũng phải chấp nhận. Chấp nhận cái điều mà nếu như con người được tạo hóa ban cho một chút huyền năng thì sẽ không bao giờ anh muốn nó xảy ra. Nhưng làm sao anh có quyền chối bỏ khi chính mình lại là kết quả của cái mà người ta gọi là trót-đã-xảy-ra.

Qua khe cửa, những mảng sáng của ngày mới bắt đầu. Tôi đến hôn anh, rồi nói: Anh ở lại, chút nữa đưa em dự lễ khánh thành cống đập.

Sực nhớ ra, Thuận nói:

“Em chuẩn bị đi với anh. Anh có hứa dẫn ba đi trên cầu mới qua bờ bên kia”.



Tác giả giữ bản quyền.

N.T (Bến Tre)

Vi diệu - truyện ngắn của NGUYÊN TÙNG

Không phải là giấc mơ. Bất chợt một rừng kiểng điệp trùng với đủ mọi hình dạng, tư thế sừng sững hiện ra làm ông Thiện tưởng mình hoa mắt. Chính lúc ấy, ông nghe bên trong ngöïc trái mình giật thót. Một cảm giác nhói buốt đến khó thở. Tay ông run và bước chân lảo đảo.
- Ông anh sao vậy? Không khoẻ à? - Một ông tuổi khoảng sáu mươi có cái bụng như người đàn bà có bầu tám tháng đi bên cạnh hỏi.

- Bác có bị cao huyết áp? Hay là cảm nắng? Thôi, để cháu dìu bác vô nhà. Kia, anh Sơn đang đứng ở hòn non bộ, để cháu cho ảnh hay. - Tiếng của người đàn ông trung niên có mái tóc dài quăn tự nhiên, ra vẻ là một nghệ sĩ.

Ông vội lắc đầu:

- Không sao. Đừng nói với chú ấy. Khách đông quá mà! Tôi ngồi đây nghỉ một chút là khoẻ. Già rồi, sinh ra trở chứng, thất thường vậy!

Anh đỡ ông Thiện ngồi xuống chiếc băng đá mài có in dòng chữ: "Đại lý phân bón Anh Tèo – Kính tặng", rồi ngồi xuống cạnh ông. Lúc này anh ta mới để ý đến cặp mai chiếu thuỷ cổ thụ được trồng trong hai chậu sứ Giang Tây có đường kính cỡ một mét trước mặt. Có lẽ chủ nhân cố ý đặt chiếc băng đá ở đây để tiện cho việc chiêm ngưỡng chúng. Không kềm được sự kinh ngạc của mình, anh reo lên:

-Tuyệt vời. Trời ơi, tuyệt vời. Ông này tìm đâu được cặp kiểng quá độc đáo! Bác thấy không? Theo cháu, đây là cặp kiểng có một không hai.

Ông im lặng. Nhưng từ sâu thẳm lòng ông có tiếng trả lời: "Chú em nói đúng. Điều đó qua và những ai từng biết nó đã khẳng định như vậy cách nay gần nửa thế kỷ. Trong khoảng thời gian vời vợi ấy, nó đã xa qua vừa đúng ba mươi năm".

Ba mươi năm. Hơn một vạn ngày ông không còn được sờ vào nó để vuốt ve hay tỉa tót, chăm sóc. Nhưng cũng từng ấy đêm nó cứ len vào giấc ngủ của ông. Không chút bình yên. Nó ám ảnh ông trong cái thế, cái dáng uy nghi, ngạo nghễ mà trong một phút xuất thần ông đã tạo ra, không theo một khuôn thước sách vở nào. Có khi tỉnh dậy, người đầm đìa mồ hôi, tâm thần hoảng loạn bởi trong mơ ông thấy chúng tan tác vì một trái cà nông nhểu trúng. Như kẻ mộng du, ông xiêu vẹo đi ra trước hiên nhà, tần ngần đứng lặng nhìn hai khoảng tròn trống trải. Đó là nơi cặp kiểng cổ mà ông đặt tên là Vi - Diệu – cũng không theo một ước lệ nào của dân trong nghề thường đặt - từng đứng. Sau một lúc trấn tĩnh, ông lững thững trở vô nhà. Vậy là thức đến sáng. Trăm lần như một. Năm này qua năm khác. Ông ngồi với bình trà nhỏ xíu, loại độc ẩm, chỉ rót vừa đúng ba chung cỡ nửa trái cau đã được cắt ngang. Ngồi trong cái vùng ánh sáng không hẳn yếu ớt cũng không hẳn mạnh mẽ - thứ ánh sáng vừa đủ thấy dáng vóc chứ chưa rõ diện mạo - của chiếc bóng đèn cà na đỏ chót trên bàn thờ. Bây giờ trước mắt ông không còn hai khoảng tròn nhờ tối ấy ám ảnh nữa mà được lấp đầy bằng hình ảnh của cặp kiểng ngày nào. Nó hiện về với bao buồn vui, bao thăng trầm của một đời cây nhưng cũng chính là bao nỗi thăng trầm của cuộc đời ông.

Có lúc ông Thiện tự an ủi rằng nếu những người đưa chúng đi ngày ấy mà nói thật thì cũng là may cho chúng. Chúng đã đứng vào cái vị trí xứng đáng… Ông không ngờ chúng lưu lạc tới đây. Mà sao như vậy được?

Người tên Sơn lúc nãy anh tóc quăn ra dáng nghệ sĩ định gọi chính là chủ nhân của vườn kiểng rộng gần hai công đất, có rất nhiều cây thuộc loại đắc địa khiến khách tham quan dù sành sõi chơi kiểng khó tính đến đâu cũng buộc phải trầm trồ thán phục. Là chủ nhân của ngôi nhà tám đấm, tám khuyết gồm tất cả tám chục cây cột toàn bằng gỗ căm xe, mà hôm nay là ngày tân gia.

Ông Thiện không ngờ Sơn còn nhớ đến ông. Từ lâu theo dõi trên đài, trên báo ông biết Sơn là chủ tịch tỉnh H. cách nhà ông hơn trăm cây số. Cách nay ba hôm Sơn tìm về thăm ông, ân cần rước ông lên nhà một chuyến dự tiệc mừng tân gia. Sơn nói với ông Thiện rằng, gần sáu mươi tuổi rồi, sắp sửa về hưu anh mới hoàn thành được ý nguyện. Một là về thăm những ân nhân đã nuôi nấng, cưu mang mình trong những năm chiến tranh mà ông Thiện là người anh nhớ đến trước tiên. Hai là cất được căn nhà theo lối cổ, vừa truyền thống, vừa hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc. Ông Thiện xúc động và cảm phục hết sức. Bây giờ mấy ai nghĩ được như Sơn. Nhất là ở địa vị xã hội như anh ấy giữa thời buổi "bê tông hóa" người ta đua nhau xây nhà cao tầng thì lại có người còn nghó đến chuyện cất nhà bằng gỗ. Vậy là ông vui vẻ nhận lời.

Ông Thiện choáng ngợp trước công trình kiến trúc quá ư đồ sộ, nhất là nó lại nằm trong một khu vườn cây cảnh nghệ thuật tuyệt vời. Những tấm hoành phi, câu đối chạm khắc tinh vi; những bộ trường kỷ, tủ thờ cẩn xà cừ lấp lánh; những bàn ghế, đi văng bằng đá cẩm thạch mát lạnh cộng với những thiết bị hiện đại như đèn chùm, tủ lạnh, ti vi "siêu mỏng", vi tính đời mới… tất cả tạo nên ấn tượng đúng như ý nguyện của chủ nhân: "cổ kim hòa hợp".

Khách mời được chọn lựa rất kỹ, nhưng rất đông. Ông Thiện ước tính phải trên trăm người. Theo như Sơn nói với ông Thiện hồi hôm, đó toàn là những vị mà anh ấy mang ơn và người mang ơn anh ấy. Ông Thiện không tiện hỏi ơn gì. Và Sơn cũng không giải thích. Trong lúc chờ đúng giờ hoàng đạo và cũng để trống chỗ cho tiếp viên nhà hàng - Sơn đã đặt nấu sẵn, chở tới - bày biện, anh mời họ tham quan vườn kiểng. Ở đây cũng thể hiện rất rõ tư tưởng của chủ nhân với sự kiên định không gì lay chuyển được.

Nhìn tổng thể khu vườn hình chữ nhật được khu biệt bởi bức tường cao khỏi đầu người. Chính giữa là một cái hồ ngang khoảng tám mét, dài gần năm mươi mét nuôi đồi mồi và cá tai tượng. Thành hồ được lát bằng những tảng đá xanh. Trên mặt bằng xung quanh hồ được chia làm hai ô cách nhau bởi một lối đi bê tông rộng khoảng bảy tấc. Ô phía trong giáp với tường rào trưng bày đủ loại bon sai, biểu tượng cho cái mới, cái hiện đại; còn ô phía trong gần hồ toàn kiểng cổ, mang đậm chất truyền thống. Và trong số hàng trăm cặp kiểng cổ này ông Thiện chợt nhận ra Vi – Diệu.

*

* *

Lần đầu tiên ông bắt gặp nó là năm ông hai mươi bảy tuổi. Không biết nó đã tồn tại bao lâu. Cũng không biết nghệ thuật cây kiểng đã thấm vào máu ông từ lúc nào, để khi gặp nó ông đã linh cảm gắn bó như có căn duyên từ kiếp trước. Hồi ấy ông chỉ là anh thanh niên chuyên nghề bó nhánh, chiết cành cây ăn trái, cây kiểng cho nhà vườn ở xứ Hưng Vĩnh. Là thợ lành nghề, nổi tiếng mát tay vì tỷ lệ cây do anh chiết, ghép sống đạt đến mức tuyệt đối nên Thiện được chủ vườn rước đi liên tục. Rày đây mai đó, bắt gặp rất nhiều loại cây kiểng với hình dạng kỳ thú làm anh mê mẩn. Thời ấy chưa có phong trào chơi bon sai. Dân sành sõi, nhà nghề chỉ chơi kiểng cổ. Vẫn chỉ là các dáng trực, xuy phong, mẫu tử... với những thế tam cang ngũ thường, tam tùng tứ đức hay long thăng, long giáng... vậy mà trước vẻ đẹp tự nhiên, đặc biệt của từng cây, Thiện như bị chúng hớp hồn. Nhiều lần đi theo Sư thầy Huệ Trung phụ giúp bó nhánh, chiết cành hay bứng gốc kiểng vô chậu ở vườn chùa Thiện đã có thêm kiến thức về lãnh vực này.

Sư thầy Huệ Trung thật sự là một nghệ nhân. Những cây nguyệt quế, mai chiếu thủy, cần thăn hay kim quýt mới ngày nào Phật tử đem hiến cho chùa còn quá non nớt, tầm thường vậy mà mấy năm sau, qua bàn tay nghệ thuật của thầy chúng như có linh hồn, mỗi cây mỗi vẻ. Cảm nhận được niềm đam mê cái đẹp hết sức thuần khiết của Thiện, Sư thầy truyền dạy cho Thiện kinh nghiệm, triết lý trong từng dáng thế của từng loại. Và nhất là cách nhận ra vẻ đẹp tiềm ẩn của cây mà không phải ai, không phải lúc nào ta cũng thấy. Sư thầy giảng giải: "Đôi lúc nó hiển hiện trước mắt mà ta vẫn không nhận ra. Phát hiện ra cái đẹp ẩn tàng rồi còn phải có cái tâm, cái ý nâng nó lên, phát huy hết thế mạnh của nó để qua thời gian nét đẹp ấy càng phát lộ sâu sắc hơn, độc đáo hơn".

Trong một lần đi bó nhánh nhãn ở Hòa Thạnh, Thiện đã gặp Vi – Diệu. Chủ nhân là hai chị em ruột tuổi gần bảy mươi không chồng con ở trong một ngôi nhà cột kê lợp ngói âm dương trông vẻ cổ kính nhưng đã xiêu vẹo. Trong nhà không vật gì đáng giá nhưng nó gây cho người lạ sự trọng vọng, nể vì bởi mấy cuốn sách chữ Nho, giấy mỏng tang, ố vàng được đặt ngay ngắn, trang trọng ở một góc bàn thờ gia tiên. Đáng chú ý là trước cửa nhà có cặp mai chiếu thủy mà thoáng nhìn qua Thiện biết ngay là "của độc". Thân nó sần sùi, u nần và ở gốc to gần cả vòng tay. Thế đứng thẳng cao khoảng ba mét theo kiểu chiết chi. Chín tầng nhánh to tròn, khỏe khoắn từ thấp lên cao đan bện chặt chẽ mà không kém phần uyển chuyển, tạo nên tư thế vừa vững chãi, vừa mềm mại lẫn chút thách thức. Cái chất vừa cương vừa nhu được kết hợp hài hòa trong một tổng thể, chỉ tiếc rằng nhánh lá thừa thãi quá nhiều chứng tỏ nó bị bỏ quên từ lâu. Và chính những tiểu tiết thừa thãi, phát triển vô tổ chức mà quá um tùm, xanh tốt kia đã che khuất vẻ đẹp kín kẽ tự thân của cặp kiểng thuộc hàng cổ thụ.

Thấy Thiện đứng ngây ra như bị hốt hồn, hai bà cô lộ vẻ xúc động. Sự chiêm ngưỡng thành kính đến mức mất cả hồn vía của người đàn ông trẻ đã chạm đến vùng ký ức thiêng liêng của hàng hậu duệ, khơi dậy trách nhiệm của những người thừa kế. Bà chị nói như người có lỗi:

- Thật tội cho chúng. Hồi ba của bà còn, trông chúng uy nghi lắm. Giờ, hai bà dốt, không biết tỉa tót nên chúng chẳng ra hình thù gì.

Rồi bà kể rằng: Hồi còn nhỏ xíu hai bà đã thấy chúng bự vậy rồi. Hỏi ba, ba nói chúng có từ thời ông nội. Nghe vậy thì biết vậy. Rồi cũng chẳng để tâm. Đàn bà con gái mà, mấy ai để ý, chăm chút đến cây kiểng. Ba của hai bà là một ông đồ Nho nghèo, sinh bất phùng thời, sống lặng lẽ như người ở ẩn. Ngoài đọc sách ông còn một niềm đam mê thanh khiết khác là thú chơi cây kiểng. Ông đã gầy dựng được hàng trăm chậu kiểng lớn nhỏ, đủ loại. Có một điều lạ là tuyệt nhiên ông không bán, dù biết bao người giàu có đến hỏi mua. Nhưng ông sẵn sàng biếu tặng cho bạn bè thân thiết đam mê và am tường cái đẹp. Lời ông nói vậy thì bà nói lại vậy chứ không hiểu "Cái Đẹp" mà ông nói ẩn chứa điều gì.

Ông nói với hai bà:

- Nhà mình nghèo, tía không có đất đai nhiều để lại cho hai con. Hai công nhãn thời buổi này chắc không đủ sống. Mấy chục năm nay tía gầy được hơn trăm chậu kiểng. Mỗi chậu đều có nét độc đáo riêng. Tía không bán là muốn làm của để lại cho hai con sau này. Đó cũng là cái tính của tía. Tía là người chơi kiểng vì đam mê, ngoài ra không có mục đích nào khác. Các con thì tía không ép. Nếu đời sống khó khăn, nghèo túng hai con bán dần cũng có thể sống được. Hoặc nếu cần số vốn lớn làm ăn thì bán đi một lượt. Có điều không nên bán cặp kiểng này. Không thể tìm được cặp thứ hai. Người chơi kiểng nhà nghề chỉ cần có nó là đủ.

Ngay từ lúc nhìn thấy, trong Thiện lóe lên ý muốn mua chúng, dù rằng giá rất mắc. Nhưng nghe bà già nói vậy anh vội từ bỏ ý định và cảm thấy xấu hổ. Mình quá tầm thường, nhỏ bé trước suy nghĩ của ông cụ, dù được truyền đạt lại bằng lời lẽ của một bà lão quê mùa.

Như có cái duyên, từ đó Thiện tự nguyện tới lui chăm sóc chúng. Cứ vài ba tháng anh đạp xe hơn hai mươi cây số từ Hưng Vĩnh lên Hòa Thạnh tỉa tót, uốn nắn cặp kiểng. Hai bà già mừng đến rơi nước mắt. Lần nào họ cũng nài nỉ Thiện nhận chút đỉnh tiền công nhưng anh đều khước từ. Anh biết để có được số tiền đó hai bà già phải tiện tặn, dành dụm từng đồng. Vả lại, tự thâm tâm Thiện xem ông cụ nhà này như một bậc thầy dạy cho anh biết cái tâm, cái đức của một nghệ nhân, dù anh chưa một lần gặp mặt. Chính vì vậy nên được hai bà già cho phép anh chăm sóc cặp kiểng của ông cụ, đối với anh là một hạnh phúc.

Nhưng rồi chuyện ấy cũng không kéo dài được lâu. Bẵng đi hơn một năm, anh không đi Hòa Thạnh vì tình hình chiến sự vùng này ngày càng trở nên ác liệt. Bỗng một hôm đi chợ để mua thêm vật liệu làm nhà, anh nghe người quen nói lại là có một bà già chủ nhân cặp kiểng nhắn anh lên gấp. Không rõ chuyện gì. Bươn bả đạp xe đi, Thiện quên cả chuyện có khi giữa đường gặp lính quốc gia và mấy ông giải phóng "đụng độ", hay đường sá bị "đắp mô", hoặc cà nông từ Chi khu Phú Nhơn bắn xuống.

Bà già đón anh bằng nụ cười méo xệch, hai dòng nước mắt lăn dài. Chỉ mới hơn một năm mà bà già đi nhiều. Lưng còng xuống làm cho thân hình ốm yếu càng trở nên quắt queo. Bà chỉ còn lại một mình, người em bà đã chết cách đó sáu tháng vì một viên đạn lạc. Bà chỉ vào hai cây kiểng trước sân, cành lá u xù không còn ra hình dạng, nói trong nước mắt:

- Cháu hãy đem chúng về chăm sóc giúp bà. Bà không thể giữ được nữa rồi!

Thiện ngạc nhiên đến sững sờ. Tưởng mình nghe nhầm. Thì ra bà nhắn anh lên là vì việc này.

- Bà yên tâm. Cứ để nó ở đây, con cố gắng lên tỉa cho.

- Để đây là không còn. Hôm trước thằng trưởng đồn Tỵ nó đến nài mua. Nghe đâu nó mua là để biếu ông quận trưởng để được thăng cấp.

- Nó có nói nó sẽ trả cho bà bao nhiêu không?

- Bao nhiêu nó cũng mua. Thằng gạc đờ co đi theo nói nhỏ với bà, cho dù bà có ra giá mắc cỡ nào thằng Tỵ cũng quyết lòng mua bằng được. Bà có hỏi mua chi mắc vậy. Thằng này nói, đối với thằng Tỵ bao nhiêu cũng không mắc hết. Bởi có phải tiền của nó đâu. Nó ăn tiền của mấy đứa thanh niên không muốn bị bắt lính, nhờ nó chạy cho cái giấy hoãn quân dịch. Nhiều lắm. Bà nghĩ trước sau gì nó cũng lấy bằng được cặp kiểng. Nhưng bà nhứt định không bán. Điều này bà có nói với cháu rồi. Gặp được cháu, âu cũng là duyên phận của chúng. Chắc ba của bà xui khiến.

Đằng sau lời lẽ chân tình ấy là sự kỳ vọng và ẩn chứa mối hiểm nguy cho số phận của hai cây kiểng quý. Nhưng Thiện lại thấy mối hiểm nguy đang rình rập bà lão.

- Liệu thằng Tỵ có để yên cho bà không?

- Nó chưa tỏ thái độ gì. Chẳng qua bà chỉ nghe thằng cận vệ của nó nói vậy thôi. Bà có nói với nó cặp kiểng này bà đã bán cho cháu từ năm ngoái. Cháu gởi lại vì chưa có điều kiện bứng chở được. Nếu nó muốn thì để bà hỏi lại cháu. Dù sao cháu cũng là người ở xã khác, ngoài tầm với của nó.

Không còn cách nào khác, Thiện tức tốc về nhà mướn ghe, huy động gần chục nhân công hôm sau đến Hòa Thạnh. Vét hết số tiền chuẩn bị cất nhà – mà thợ đang xây gạch cuốn nền – Thiện đưa cho bà lão. Bà không nhận vì bà không bán chúng. Bà chỉ muốn cặp kiểng của ba bà không phải là vật để người ta mua danh bán tước. Thiện nhìn căn nhà xiêu vẹo của bà lão, thấy không đành lòng. Thật ra trong thâm tâm anh không hề nghĩ đây là một cuộc mua bán. Dẫu số tiền anh mang đến là không nhỏ, nó là cả gia tài của anh nhưng cũng không sao sánh được với cặp kiểng có một không hai này. Để bà già nhận anh buộc phải nói: "Nếu bà không nhận, cháu sẽ không bứng chúng. Với lại bà phải cất lại căn nhà thờ ông cụ thì thằng Tỵ mới tin, nó mới không làm khó dễ với bà".

Vậy là căn nhà định cất đành xếp xó. Vợ chồng con cái Thiện chen chúc nhau trong gian nhà dưới vốn là nhà bếp. Được cái vợ Thiện chỉ lộ vẻ buồn chứ không eo xèo gì. Chị tôn trọng cái đam mê mà chị trộm nghĩ là có chút đồng bóng của chồng.

*

* *

Hơn một năm sau, cặp Vi Diệu đã lợi nghỉn(*). Không chỉ là vẻ tốt tươi, xanh mướt cành lá do được chăm sóc kỹ càng, chu đáo mà vóc dáng càng trở nên bề thế, quyến rũ hơn.

Một buổi chiều, sau khi cắt tỉa những cành lá thô thiển, thừa thãi Thiện bước lùi ra xa để ngắm nghía. Hầu như ngày nào anh cũng có vài lần chiêm ngưỡng nó mà vẫn không thấy chán. Bỗng trong đầu Thiện lóe lên một hình tượng lạ. Thiện tưởng tượng tầng trên cùng của cặp kiểng không phải hình chóp mà thay vào đó là hình con chim Lạc. Lạ, sao cái hình tượng trên chiếc trống đồng từ trong sách giáo khoa Sử thuở anh còn đi học lại đến trong lúc này? Mà từ trước đến nay anh có thấy hoặc nghe ai uốn kiểng lại theo hình tượng đó. Nhưng sao lại không, nhất là đối với cặp kiểng quá độc đáo này?

Vậy là cái ý tưởng đôi chim Lạc bay vút lên trong khoảng không gian thoáng đãng đã được Thiện thể hiện trên tầng thứ chín của cặp kiểng, chỗ phần chóp nón. Phải mất gần hai năm đôi chim Lạc mới hoàn chỉnh. Không cứng nhắc như một sự sao chép nhưng cũng không cách điệu đến mức người xem không nhận ra.

Tin đồn ngày càng lan rộng. Những bậc chơi kiểng lão luyện tìm đến chiêm ngưỡng ngày một đông. Họ trầm trồ thán phục. Có người ngẩn ngơ như tâm trạng chàng Từ Thức vừa lạc bước vào tiên cảnh, bởi trong mắt họ đôi chim Lạc sống động như đang bay vút lên trong khoảng không gian bao la ngập tràn ánh nắng. Nhất là những buổi sáng sớm, sương còn đọng hay vừa qua một cơn mưa, nắng chiếu phớt trên cành lá làm đôi chim lấp lánh, lung linh như đang tung cánh.

Người ta liên tục đưa ra những cái giá ngất ngưởng bằng giá trị mấy tờ vé số độc đắc, cho dù biết bao lần Thiện bảo là không bán. Anh chỉ bằng lòng bán bất cứ cặp kiểng nào trong hàng trăm cặp mà anh có, chỉ trừ Vi Diệu. Trong số người ấy, có người nài nỉ do thực sự đam mê nên không tiếc tiền, nhưng cũng không ít người có ý hăm he, đe dọa vì dựa vào thế lực đương thời. Có lẽ phần nào nhờ anh nổi tiếng mê kiểng đến mức vét cạn số tiền cất nhà để mua chúng, nên họ cũng có chút nể nang, không gây khó dễ. Thôi thì đành chọn những cặp lép hơn.

Vậy mà Thiện vẫn nơm nớp lo sợ. Quê anh là vùng xôi đậu, bom thì ít nhưng pháo từ Chi khu Phú Nhơn thường xuyên bắn xuống. Nhiều lúc anh mất ăn mất ngủ vì cứ nhắm mắt là tưởng tượng cặp kiểng bị pháo bắn trúng tan tác.

Có khoảng thời gian chiến tranh ác liệt, Thiện phải ra phố quận mướn một căn nhà nhỏ gần nhà thờ cho vợ con ở. Còn Thiện thì đi đi về về để chăm sóc vườn kiểng, nhất là để nhìn thấy bằng được Vi Diệu.

Bấy giờ Thiện đã nổi tiếng là bậc thầy trong làng chơi kiểng. Ngoài việc bó nhánh, chiết cành cây ăn trái, Thiện có thêm nghề mới: sửa cây kiểng. Chính nghề mới này đã giúp anh lui tới thường xuyên nhà các quan chức hàng quận, hàng tỉnh. Như một cái mốt, ngôi biệt thự nào của các vị cũng có năm mười cặp kiểng. Hầu hết là quà biếu của thuộc cấp. Vị nào cũng muốn tỏ ra mình là người sành sõi, lão luyện trong món này nên cho người thân tín tìm Thiện, rước anh đến chăm sóc theo định kỳ mỗi tháng một lần. Lạ một điều là vị nào cũng muốn Thiện giữ bí mật "hợp đồng đặc biệt này". Chắc vì sĩ diện. Không vị nào muốn người khác biết mình kém cỏi trong thú chơi tao nhã và sang trọng này. Công việc mới mẻ giúp Thiện nắm bắt được nhiều thông tin quan trọng để về báo lại cho Sơn – một cán bộ giải phóng mà anh không rõ chức vụ - thường xuyên đến ở nhà anh trong những đợt về công tác từ những ngày đầu Đồng khởi. Ngay việc Thiện chuyển vợ con ra chợ ở trong khu giáo dân cũng là do lời đề nghị của Sơn khi anh được lệnh chuyển địa bàn hoạt động. Với Sơn, công việc và sự quan hệ rộng rãi của Thiện là lá chắn an toàn, tránh được những cặp mắt xoi mói, nghi kỵ.

*

* *

Ông Thiện bịnh một trận quặt quẹo tưởng là "quăng gậy", nhưng rồi cũng hồi phục. Có điều ông ít nói hẳn đi. Dạo này người ta thường hay bắt gặp ông ngồi trước thềm ba, nhìn đăm đắm vào hai lõm trống trước sân kiểng. Đó là chỗ của cặp Vi Diệu ngày nào. Mấy chục năm rồi vẫn vậy.

Kể từ ngày người ta đem Vi Diệu đi, ông Thiện không mó tay vào bất cứ cây kiểng nào nữa. Ông giao hết lại cho hai người con trai. Hai anh này sử dụng sân kiểng làm nơi ươm trồng, mua bán. Việc kinh doanh hoa kiểng đang hồi phát triển, thành phong trào. Nhờ tiếng tăm của ông Thiện nên hai con ông làm ăn phát đạt. Mấy năm gần đây hai anh còn mở thêm đại lý ở Sài Gòn và Hà Nội, thuê người giỏi nghề ở quê và người sở tại cùng quản lý. Hai anh đi về như con thoi để săn lùng kiểng đẹp. Sân kiểng trước nhà dày đặc những loại bon sai liên tục được thay mới. Chỉ có vài cặp kiểng cổ nhưng thuộc loại tầm thường, khách hàng chê ỏng chê eo nên còn đứng đó. Duy chỗ Vi Diệu vẫn là hai lõm trống không cây nào thay thế. Đó là ý ông Thiện và được các con ông tôn trọng.

Hai lõm trống có từ ba mươi năm trước.

Đó là năm đói kém nhất sau chiến tranh. Cái ăn hàng bữa được đặt lên hàng đầu. Mọi thứ tiêu khiển, trong đó có thú chơi cây kiểng bị coi là trò xa xỉ.

Một sáng có ba người đàn ông, dáng oai vệ đi chiếc Jeep lùn đến ngắm nghía, săm soi cặp Vi Diệu. Họ nói họ là người của ty của bộ gì gì ông Thiện nghe chẳng rõ. Đại khái ông hiểu họ là người trên tỉnh và tận ngoài Trung ương. Họ nói, quả như lời đồn, cặp kiểng có đôi chim Lạc này là tuyệt tác. Nó xứng đáng đứng ở vị trí trang trọng ngoài Thủ đô để không những khách trong nước mà còn cho các vị khách nước ngoài chiêm ngưỡng. Họ ngỏ lời mua với giá cao nhất của người trước đây đã ngã, và sẽ được quy đổi ra bằng tiền mới. Ông Thiện tỏ lời cảm ơn chân thành trước sự ngưỡng mộ của họ nhưng nói rõ là ông chưa hề có ý định bán cặp Vi Diệu. Cả sân kiểng nhà ông, khách có thể chọn bất cứ cặp nào và bao nhiêu cũng được ngoại trừ chúng.

Lần thứ hai. Lần thứ ba. Rồi đến lần thứ tư. Vẫn ba người khách ấy. Lần này họ không đặt vấn đề mua bán nữa mà ân cần động viên, khơi dậy lòng yêu nước và trách nhiệm của một công dân.

Đến nước ấy thì ông Thiện không còn lý do để giữ cặp Vi Diệu. Ông sợ người ta liệt ông vào loại người "không yêu nước". Thôi đành vậy. Có lẽ ông chỉ có duyên với chúng đến chừng đó. Chúng phải đứng ở vị trí xứng đáng hơn.

Tuy không là mua bán nhưng ông Thiện cũng nhận được số tiền khá lớn, mà những người khách cho là tương xứng với giá trị cặp kiểng để bù vào công sức chăm sóc và sáng tạo của ông.

Vi Diệu đi rồi, ông Thiện buồn nhớ chúng đến quay quắt, dù ông cũng luôn tự an ủi rằng chỗ đứng mới của chúng là xứng tầm. Ông ao ước một ngày nào đó được ra Thủ đô, tận mắt nhìn thấy chúng. Vậy mà…

- Không thể ngờ bây giờ chúng đẹp mê hồn. Bề thế và uy nghi lắm ba!

Hai anh con trai đang buôn bán ở Hà Nội nghe tin ông bịnh đã trở về sớm hơn dự định. Các anh hớn hở khoe là đã tìm thấy Vi Diệu rồi. Nhìn là nhận ra chúng ngay, không lẫn vào đâu được. Chúng được những nghệ nhân bậc thầy chăm sóc nên quá tuyệt vời, phô phang hết vẻ đẹp. Những ông Tây, bà đầm phải trố mắt vì quá bất ngờ khi nhìn thấy đôi chim Lạc…

Ông Thiện cười cho hai con vui, nhưng khi còn lại một mình ông mới chảy nước mắt. Nghĩ mà tội nghiệp cho các con. Làm cha, hơn ai hết ông hiểu lòng của chúng. Chúng nghĩ rằng bệnh của ông một phần do Vi Diệu mà ra. Vì quá thương cha, chúng đã mang tội nói dối.

Nhưng qua những câu chuyện mà hai con trai kể mong làm ông khuây khoả, ông Thiện mới vỡ lẽ rằng bây giờ người ta chơi kiểng khác Sư thầy Huệ Trung và ông nhiều lắm. Ngoài việc quan niệm nó là tác phẩm nghệ thuật, một sản phẩm hàng hoá, còn cái gì nữa mà ông chưa biết gọi tên. Đó là việc người ta mua kiểng thuộc loại bình thường thôi – dĩ nhiên là không quá tệ - dùng để biếu cho một quan chức nào đó nhân dịp mừng thọ hay tân gia hoặc "bán" cho các vị với giá phải chăng, nhưng cách chừng mươi ngày, nửa tháng có mấy người đến ngắm nghía, không tiếc lời ca tụng rồi nài nỉ chủ nhân nhượng lại với cái giá "trên trời". Chủ nhân thì dùng dằng, kèn cựa nhưng cuối cùng vì cảm thông ông khách "mê nó quá" nên đành "cắt ruột" mà bán. Rồi phần lớn trong số ấy, mấy ngày sau trở lại chỗ đứng khiêm tốn ngoài cửa hàng mà trước đó nó đã đứng. Cho nên bây giờ quan chức làm giàu vì "chơi kiểng" nhiều lắm. Nghe thì biết vậy thôi chứ đằng sau sự biếu tặng, mua bán đó là gì thì chỉ có "trời biết".

Vô tình chuyện tận đẩu tận đâu trong thực tế kinh doanh của hai con giúp lòng ông Thiện nhẹ nhõm phần nào. Câu hỏi bằng cách nào Vi Diệu lại hiện diện ở vườn kiểng nhà Sơn, không phải như lời những người đưa chúng đi ngày ấy đã hứa với ông giờ không còn đè nặng lòng ông nữa. Ông thấy chẳng cần phải biết, bởi cũng chẳng để làm gì. Chỉ có điều làm ông đau như ai đó đưa bàn tay thô bạo bóp nghẹt trái tim mình. Đó là, không biết từ lúc nào người ta đã biến đôi chim Lạc đang bay trên đỉnh Vi Diệu thành hình tượng của hai nàng vũ nữ. Chỗ cánh chim giờ là đôi cánh tay uyển chuyển vươn ra, uốn éo như đang thể hiện một vũ khúc nghê thường. Phải thừa nhận rằng ai đó – có thể là Sơn mà cũng có thể không phải Sơn – đã hết sức công phu trong việc tỉa tót sửa đổi, cách tân cho phù hợp với ý tưởng của chủ nhân. Sự cách điệu đôi tay vũ nữ đang múa là biểu hiện nghệ thuật bon sai trên nền kiểng cổ.

Và chính nó đã quật ông ngã quỵ.

…Tiếng đại thần chung bỗng vang âm dồn dập một cách bất thường từ chùa vọng tới. Ông Thiện lại nghe trong ngực trái mình giật thót. Không kềm được, ông lẩm bẩm một mình: "Lẽ nào Sư thầy Huệ Trung viên tịch?"…



Chú thích:
(*): Hồi sức.

Tác giả giữ bản quyền.

N.T (Bến Tre)

Chút hương đời còn đọng - ghi chép của NGUYÊN TÙNG

(GHI THEO LỜI KỂ CỦA NHÀ THƠ LÊ HÀ)

"Cha ngã xuống buổi chiều Yên Bái
Hơi ông tàn trên một nẻo Cần Vương
Mùa thu sang... con cháu lên đường"
Đó là những câu thơ đầu tiên của tôi khi tham gia vào Đoàn Văn hóa kháng chiến ở tỉnh Bến Tre.


Nó cũng đánh dấu sự chuyển hướng của thơ tôi, từ thơ tình yêu sang trữ tình cách mạng. Nói thì nghe nhẹ nhàng vậy chứ lúc ấy thật không dễ dàng gì đối với anh chàng làm thơ trẻ mang tên Lê Nguyên là tôi, mới 23 tuổi, dù tâm trạng hăm hở đến với cách mạng. Sinh ra ở Tuy Hòa, học sư phạm ở Sài Gòn ra trường về dạy ở Giang Thành - Hà Tiên năm 1943 rồi tham gia Tổng khởi nghĩa giành chính quyền (8-1945) tại Thị xã Hà Tiên. Đến năm 1947 khu IX có tổ chức một đoàn thanh niên trong đó có tôi về học trường Lục quân ở Quảng Ngãi do đồng chí Vũ Đức - Tư lệnh Quân khu IX dẫn đầu. Đoàn đi đến Bến Tre thì gặp ông Trương Văn Giàu - Khu bộ phó Khu VIII. Ông Giàu thấy đoàn đi ba bốn chục người nặng nề quá mà đường thì xa, phương tiện khó khăn nên bàn với Tư lệnh Khu IX nên để anh em ở lại tham gia vào Ban Tuyên huấn tỉnh Bến Tre. Vậy là chúng tôi được ở lại tại trường Đảng, đóng tại Cồn Ốc (nay là xã Hưng Phong, huyện Giồng Trôm). Chỉ còn bốn người đi Quảng Ngãi. Hiệu trưởng trường Đảng lúc ấy là ông Trần Trường Sinh - người hiệu trưởng trường Đảng đầu tiên ở Bến Tre mà sau này Tỉnh ủy đã quyết định lấy tên ông đặt cho tên trường.

Từ năm 1947, trong Ban Tuyên huấn tỉnh, ngoài trường Đảng ra còn có tổ chức Đoàn Văn hóa kháng chiến mới được thành lập do anh Lê Hoài Đôn - giảng viên trường Cán bộ Việt Minh làm Thơ ký. Vì tôi biết làm thơ nên được các anh kết nạp là thành viên của Đoàn. Rồi một đêm tôi đem đến anh Đôn bài thơ cách mạng đầu tiên của mình nhờ anh đọc góp ý. Anh rất hài lòng, cứ tấm tắc khen. Riêng tôi sung sướng khó tả vì sau bao ngày loay hoay, trăn trở chuyển hướng tôi đã thành công. Bài thơ sau đó được in trên tạp san Tháng Tám, rất tiếc tôi không còn lưu giữ được, nay chỉ còn nhớ mấy câu vừa nêu ở phần đầu bài này.

Năm 1948, khoảng giữa năm, Đoàn Văn hóa kháng chiến có mở lớp tập huấn về lý luận văn hóa văn nghệ rồi tiến hành Đại hội lần thứ I trong vườn mía nhà ông Hai Tiến ở Bình Khánh (Mỏ Cày). Đại biểu các huyện đều có về dự, khoảng bốn năm chục người. Trong số này lực lượng sáng tác văn học nghệ thuật có ít, phần đông là làm công tác tuyên truyền. Sáng tác văn thơ có anh Lê Hoài Đôn, anh Hằng Ngôn (tức bác sĩ, nhà văn Trần Hữu Nghiệp), anh Võ Trọng Cảnh (tức nhà văn Trang Thế Hy), anh Huy Khanh (tức anh Nguyễn Văn Châu - nguyên Trưởng ban Tuyên huấn tỉnh Bến Tre), anh Nguyễn Tân Tấn bên quân đội (lúc ấy anh Tấn là Phó ban chính trị Trung đoàn 99), Lê Tế Sanh, Lê Trí và tôi. Nhạc có các anh Tri Trọng, Lữ Sinh, Khổng Tuyết Sơn, Nguyễn Thu... Riêng anh Nguyễn Thu (tức soạn giả Thu An sau này), vừa sáng tác nhạc vừa làm thơ. Họa có anh Chi Lăng, dịch có anh Phong Đảo. Anh Phong Đảo rất giỏi tiếng Hoa. Ở hội nghị này anh trình bày khái quát về các trào lưu văn học nghệ thuật thế giới và đi sâu phân tích, giảng giải về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa theo một tài liệu bằng chữ Hán được dịch từ nguyên bản tiếng Nga. Anh Phong Đảo tên thật là Phạm Huy Đạt, quê ở cù lao Hưng Phong (Cồn Ốc). Bút danh Phong Đảo xuất phát từ địa danh này.

Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đoàn Văn hóa kháng chiến. Anh Lê Hoài Đôn được bầu làm Thơ ký, anh Phong Đảo - Phó thơ ký; Ủy viên Ban Chấp hành có Võ Trọng Cảnh, Tri Trọng, Chi Lăng, Nguyễn Tân Tấn và tôi.

Anh Lê Hoài Đôn năm ấy (1948) mới 24 tuổi, bằng tuổi với anh Võ Trọng Cảnh và tôi, nhưng là một “cây lý luận Mác xít” sắc sảo. Là học sinh trường Trung học Pétrus Ký Sài Gòn, học xong tú tài anh về quê Phước Long - Giồng Trôm tham gia kháng chiến. Với cương vị là Thơ ký Đoàn Văn hóa kháng chiến, anh sáng tác ít mà dành nhiều thời gian đọc, góp ý, sửa chữa tác phẩm của anh em. Kiến thức rộng, am hiểu sâu sắc về văn học nghệ thuật và sống chan hòa, thân thiết, hết lòng giúp đỡ mọi người nên anh được anh em kính nể.

Những năm đầu kháng chiến này dù đời sống vật chất còn nhiều thiếu thốn nhưng hầu như không ai nghĩ đến nó mà tất cả đều hăng hái, hào hứng. Không khí sáng tác sôi nổi, nhiều tác phẩm hay ra đời, mang dấu ấn một thời mà đến nay nhiều người còn nhớ. Như trường hợp bài hát “Chiến tử ca” của Nguyễn Thu. Bài hát ca ngợi sự hy sinh anh dũng của anh Phan Văn Phải - một cán bộ của ông Đồng Văn Cống trong trận đánh đồn Cầu Móng (Hương Mỹ, Mỏ Cày). Đây là đồn giặc án ngữ trục lộ tỉnh, cắt đứt đường giao thông, liên lạc của ta với địa bàn huyện Thạnh Phú. Đồn phòng thủ rất kiên cố đặc biệt là có một bức tường thành bằng lúa vây bọc chung quanh. Chúng vơ vét lúa của dân, tập trung về lớp vô bao, lớp đổ xá, tạo thành một bức tường thành bảo vệ và cắt đặt lính canh cẩn mật. Muốn điều nghiên lên phương án đánh cũng khó vì không có vị trí tiếp cận. Sau ta biết Hội đồng Nhơn nhà ở cách đồn một con lộ lớn, có người con trai theo ta, trong Đoàn Văn hóa kháng chiến. Vậy là từ đó kế hoạch đánh được vạch ra. Anh Phan Văn Phải chỉ huy trận đánh, phá được đồn. Sau trận đánh bức tường thành bằng lúa cháy âm ỉ hàng mấy tháng trời. Trong trận này anh Phải hy sinh.

Bài “Chiến tử ca” ngay khi ra đời đã nổi tiếng, nhanh chóng đi vào lòng người. Hễ có ai bắt nhịp: “Ở nơi đây súng thép rền vang...” thì hầu như mọi người cùng hát theo.

Anh Nguyễn Thu ngoài sáng tác nhạc, còn làm thơ nữa. Cũng trong năm 1948, bài thơ Quân - dân của anh đăng trên Tạp chí Văn hóa Phổ thông được nhiều người yêu thích. Đặc biệt đây là bài thơ bình thanh - toàn bài không có vần trắc.

"
Chiều nay mưa lai rai
Xa xa đoàn quân về
Trên đồng xanh vung tay
Loay hoay cùng đôi bò
Quân đi theo cờ bay
Âm thầm mà nghiêm trang
Anh đi sau tay cày
Lưng trần mà hiên ngang
Quân đi gìn non sông
Anh lo trồng cơm vàng
Trên trang đời ghi công:
“Quân - dân đều anh hùng”.

Sau này vì bệnh, sức khỏe sa sút anh xin chuyển ra thành. Ở Sài Gòn anh quen nhiều trong giới sân khấu, cưới nghệ sĩ Ngọc Hương làm vợ và chuyển hẳn sang sáng tác kịch bản cải lương, ký bút danh là Thu An.

Anh Võ Trọng Cảnh, Ủy viên Ban Chấp hành phụ trách mảng văn học thì lại mặn về đề tài binh vận. Lúc ấy anh sáng tác thơ nhiều hơn văn nhưng có một bài tùy bút rất hay nói về tâm trạng của một anh lính canh đồn giặc bên kia sông trong một đêm gió lạnh. Bài tùy bút nhan đề “Chừng nào anh qua sông” với câu kết dễ gây ấn tượng trong lòng người đọc: “Người bạn bên kia sông ơi, chừng nào anh qua sông?”. Sau đó không lâu cũng trên Tạp chí Văn hóa phổ thông Võ Trọng Cảnh có bài thơ “Phải chi em có cánh”. Cũng về đề tài binh vận, nhưng đây là lời của người vợ nhắn nhủ với chồng. Có những câu đến nay tôi còn nhớ:

"
Gió lọt lều thưa đèn lụn bấc
Trăng khuya vằng vặc trải bao la
Anh ơi anh ở phương nào nhỉ
Cách vợ hiền anh mấy dặm xa
Có biết đêm nay trời nổi gió
Con thơ run lạnh khóc đòi cha
Chạnh lòng em ứa hai dòng lệ
Nhớ buổi chia ly dưới mái nhà..."

Bài thơ còn dài, diễn biến theo tâm trạng người vợ khuyên chồng quay về với dân với nước, và người vợ ước mình có “cánh” để đến bên anh với niềm tin tưởng: “Mai sau chung hát khải hoàn ca”.

Tôi với anh Cảnh có nhiều kỷ niệm vui. Vì cùng tuổi và cùng được phân công hoạt động tuyên truyền ở cánh Chợ Lách, chúng tôi thường đi chung nhau xuống Hưng Khánh Trung, Ba Vát, Sơn Định, Phú Phụng để tuyên truyền về “hũ gạo nuôi quân” hoặc nói về tình đoàn kết quân dân... Cũng có khi cùng đi xuống rừng An Qui (Thạnh Phú), nơi nhà in đóng để chăm sóc cho tờ Văn hóa phổ thông. Đường sá rộng thênh thuộc vùng kiểm soát của ta nên chúng tôi cứ nhởn nhơ đi, đi bộ thôi chứ không có phương tiện gì khác. Mỗi người mang một cái ba lô. Chúng tôi cắm vào ba lô mỗi đứa một khúc cây khoảng nửa thước rồi dùng dây nối hai đầu cây thành một đoạn dài chừng hai, ba thước. Vậy là có một sào đồ di động, trên đó cứ thoải mái phơi quần áo mới giặt. Vừa đi vừa nói chuyện, khi thì bàn về văn chương, khi nói về một cô nàng nào đó, hoặc đủ chuyện trên trời dưới đất để quên đường xa, và quần áo khô dần bay phất phơ, phất phơ trông thật vui mắt.

Đi kháng chiến với lòng hăng say, hăm hở nhưng tâm hồn tôi lúc ấy còn lãng mạn lắm. Nhớ hồi ở Phước Long tôi có yêu cô nàng tên L., rồi làm thơ:

"
Chưa bao giờ được thấy dáng em đi
Nhưng chân em có một lần đã dẫm
Lên hồn tôi những bước chân đằm thắm
Gót thon thon không tan xóa bao giờ."

Thơ tình như vậy chứ khi viết về đề tài cách mạng thì cũng hừng hực lửa. Như khi đọc được bản tin chiến thắng La Ngà trên báo Quân khu VII, tôi đã viết:

"
Ngày mùng Một tháng Ba
Đại thắng ở La Ngà
Rừng say trong lửa đỏ
Lửa réo theo lời ca..."

Bài này được Tri Trọng phổ nhạc, gửi về Viện Văn hóa kháng chiến Nam bộ, chỗ ông Hoàng Xuân Nhị, sau được anh Trương Bỉnh Tòng hát. Tri Trọng còn nổi tiếng với bản Séranade Bàu Gốc (khúc ca buổi chiều Bàu Gốc). Bản nhạc được thể hiện với anh Chiếu đờn ghi-ta, Tri Trọng kéo violon, anh Tuấn thổi Armonica.

Cũng bên cánh nhạc có anh Lữ Sinh sáng tác bài “Tự do cơm áo hòa bình” rất hay, được Đài Tiếng nói Việt Nam phát đến mãi sau này:

"
Làm sao khắp chúng dân đều tự do
Làm sao khắp chúng dân đều cơm áo
Làm sao khắp thiên hạ hưởng hòa bình
Bao nhiêu năm đói rét và lầm than
...
Đứng lên đều phá gông cùm giam đời sống..."

Nói chung không khí sáng tác kể từ sau Đại hội lần thứ I sang năm 1949 khá sôi nổi, hào hứng và có những thành tựu. Đặc biệt năm 1949 có những sự kiện đáng nhớ. Đó là việc cuốn “Hồ Chủ tịch trong lòng dân tộc” của Hằng Ngôn tức bác sĩ Trần Hữu Nghiệp vừa xuất bản đã gây được tiếng vang khiến mọi người tìm, chuyền nhau đọc. Thứ hai là cuốn truyện vừa “Con đường sáng” của Lê Tâm - một nữ tác giả còn rất trẻ, em gái của anh Lê Hoài Đôn. Truyện được in trên Tạp chí Văn hóa phổ thông bằng cách nhập hai số làm một. Tiếc là đến nay không ai còn lưu giữ được quyển nào, kể cả tác giả. Năm 1998, tức là sau gần nửa thế kỷ, tác giả đã cố gắng hồi nhớ viết lại, có bổ sung để thành truyện dài lấy tên “Làng nhỏ bên bờ Hàm Luông” và được Hội Văn học Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu - Bến Tre xuất bản vào cuối năm 1999.

Sự kiện thứ ba là tập ký sự “Trường Hận” của Lang Sĩ (tức Nguyễn Duy Oanh) được Viện Văn hóa kháng chiến Nam bộ tặng giải Khuyến khích cuộc thi văn học. Ở cuộc thi này ông Truy Phong - thi sĩ trong Đoàn Văn hóa kháng chiến tỉnh Vĩnh Long được giải thưởng Tầm Vu (giải Nhì, không có giải Nhất - Giải La Ngà) với tập bài hát đối đáp “Lòng Quê” và một số ca dao trong tập “Tiếng Dân ca”; Nhà thơ Nguyễn Bính được giải thưởng Giồng Dứa (giải Ba) với một số tác phẩm trong tập “Sóng biển cỏ” và một số bài trong tập “Ca dao Vệ quốc” mà tác giả đã ký với bút danh Kiều Mộc. Có hai giải Khuyến khích, một thuộc về ông H.M.T, chiến sĩ Trung đoàn 310 (Biên Hòa) với tập truyện dài “Khói lửa La Ngà”, và một thuộc về tập ký sự Trường Hận của Nguyễn Duy Oanh.

Trường Hận viết về cuộc thảm sát trên 200 người dân ở Cầu Hòa (nay thuộc xã Phong Nẫm huyện Giồng Trôm) vào ngày 10-1-1947 của quân đội Pháp do tên Tây lai Léon Leroy - thiếu úy Quận trưởng kiêm Chi khu trưởng An Hóa cầm đầu.

Ông Oanh (lúc ấy thường viết là Hoanh) không phải là hội viên của Đoàn Văn hóa kháng chiến tỉnh nhưng ông thường xuyên liên lạc với Đoàn; xem như cộng tác viên theo cách gọi bây giờ. Ông viết tập ký sự này gửi về Viện Văn hóa kháng chiến Nam bộ dự thi nhân mùa Thi đua ái quốc.

Lúc ấy ở tỉnh ta, nhất là các xã giải phóng ở Mỏ Cày như An Định, Bình Khánh, An Thới, Thành Thới... được căng, dán đầy băng rôn, áp phích do họa sĩ Chi Lăng vẽ cổ động rầm rộ cho phong trào Thi đua ái quốc. Băng rôn kẻ rất đẹp câu khẩu hiệu: “Người người thi đua, ngành ngành thi đua, ngày ngày thi đua. Ta nhất định thắng, địch nhất định thua”. Còn áp phích thì vẽ nhiều tranh cổ động, thường hay có gương mặt cô gái. Có điều lạ là dù vẽ nhiều chủ đề khác nhau, mặt các cô được họa sĩ vẽ ở nhiều góc độ khác nhau và dù là nông dân, công nhân hay trí thức thì cũng chỉ là gương mặt của một người. Anh em trong Đoàn Văn hóa kháng chiến không ai không nhận ra đó là gương mặt của cô K.C ở Tân Thành Bình. K.C và N.D là hai chị em ruột đẹp nổi tiếng đã làm rung động biết bao trái tim văn nghệ sĩ trong Đoàn. Xem ra K.C được chiếm ngôi “hoa khôi” nếu xét về mặt biểu lộ sự rung động ở các anh chàng. Như Minh Đạo (sau tập kết ra Bắc là phát thanh viên của Đài Tiếng nói Việt Nam), như Hằng Ngôn, như Chi Lăng... Hằng Ngôn còn làm thơ ca ngợi nữa, tôi còn nhớ có câu: “Tân Thành Bình là nơi hò hẹn của muôn tim”...

Bước sang năm 1950, Đoàn Văn hóa kháng chiến tổ chức Đại hội lần thứ II tại nhà ông Hương chánh Khải ở xã An Định (Mỏ Cày). Từ Đại hội này Đoàn đổi tên là Phân hội Văn nghệ Đồ Chiểu, và đây chính là tiền thân của Hội Văn học Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu - Bến Tre ngày nay.

Cũng trong năm này Tri Trọng, Chi Lăng, Mân Giang và tôi được cử đi học trường Lục quân. Về chuyện đi học chúng tôi có một kỷ niệm đáng nhớ.

Lúc ấy Đoàn có nhận được thông báo chiêu sinh của Trường Lục quân, trên cơ sở tự nguyện. Anh em chưa nghe ai có ý định đăng ký. Nhưng một hôm trên báo Quân Khu có in bài thơ “Những thanh gươm bén” của Kiều Mộc - một bút danh khác của nhà thơ Nguyễn Bính, ngay lúc đọc lần đầu tôi đã mê:

"
Từ anh đi học trường Quân Chính
Tôi ở lều tranh trăng sáng soi
Trăng sáng soi ngời trang giấy trắng
Lung linh nét chữ mực còn tươi

Những mái đầu xanh bừng máu nóng
Có nghe căm hận thét nên lời
Tập trung mũi nhọn bêu đầu giặc
Gươm súng phần anh bút có tôi."

Bài thơ cứ ám ảnh, thôi thúc tôi. Vậy là tôi xung phong đăng ký. Không ngờ Tri Trọng, Chi Lăng rồi Mân Giang cũng đăng ký đi vì sức “réo gọi” của bài thơ. Hồi ấy ta chưa có từ “tiếp thị” hay “khuyến mãi” như bây giờ nhưng rõ ràng bài “Những thanh gươm bén” là bài thơ “tiếp thị” đầu tiên cho trường Lục quân đạt hiệu quả cao.

Còn anh Võ Trọng Cảnh được rút về Sở Thông tin Nam bộ (Cà Mau), rồi được Sở tăng cường cho Ty Thông tin Cần Thơ, làm Trưởng phòng Thông tin huyện Long Mỹ (Cần Thơ) cho đến năm 1954. Riêng anh Lê Hoài Đôn - Thơ ký Phân hội - sau Đại hội ít lâu được đề bạt vào Thường vụ Tỉnh ủy rồi hy sinh ở cánh đồng An Qui thuộc xã Đa Phước Hội (Mỏ Cày) cuối năm 1950.

Gần 60 năm rồi kể từ những ngày đầu của Đoàn Văn hóa kháng chiến, lớp anh em chúng tôi hồi ấy đến nay số người còn ít hơn số người mất rất nhiều. Qua hai cuộc chiến tranh ác liệt, qua quãng thời gian dài bằng cả đời người và qua bao thăng trầm trong cuộc sống hẳn những điều còn nhớ là ít, rất ít, song những gì còn lại là những gì đẹp nhất, ấn tượng nhất trong mỗi con người. Với tôi, những mẩu chuyện nhỏ và có phần tản mạn vừa kể trên là những dấu ấn khắc sâu về quãng thời gian sống, hoạt động trong Đoàn Văn hóa kháng chiến Bến Tre. Nó luôn đọng lại trong tôi cảm giác một thời sôi nổi, trẻ trung và rất hồn nhiên. Để bây giờ tôi luôn tự nhủ lòng:

"
Còn duyên còn nợ còn tình
Còn ngâm còn hát giọng mình thơ ta
Còn sống còn yêu còn sáng tạo
Cho hương đời hòa hợp với hương hoa".

4.2005



Tác giả giữ bản quyền.

N.T (Bến Tre)

Related Posts with Thumbnails

Share

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More